365BongDa.net Xem dự đoán kèo Find out
  • KIẾM TIỀN CHỈ TRONG 90 MINUTES

  • Tuyệt chiêu

  • Neteller

  • kinh nghiệm

  • Latest

    Chelsea đã đăng quang Premier League 2016/17. Với kỉ lục về số trận thắng trong 1 mùa giải. Antonio Conte, kiến trúc sư cho thành công của The Blues được vinh danh ở các giải thưởng HLV xuất sắc nhất.
    “Cỗ máy hoàn hảo” N’golo Kante gây bão ở mọi cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất. Eden Hazard, như chính anh thừa nhận, đã có 1 mùa giải hay nhất trong sự nghiệp. Phong độ chói sáng không-ai-ngờ-tới của cặp cánh Marcos Alonso – Victor Moses. Những bàn thắng của Diego Costa.
    Còn gì nữa? Sự bùng nổ của Cesc Fabregas ở nửa sau mùa giải. Những khoảnh khắc vi diệu mang tính bước ngoặt của Pedro. Một Gary Cahill thay thế xuất sắc vai trò thủ quân và thủ lĩnh hàng thủ của John Terry. Một David Luiz đã chiến đấu với tinh thần không-nói-chết dù nhiều tháng liền xung trận với cơn đau âm ỉ ở đầu gối. Một Courtois, càng chơi càng hay để kết thúc mùa giải với danh hiệu “Găng tay vàng”.
    Cesar Azpilicueta có lẽ là người kém nổi bật hơn cả trong đội hình Chelsea lên ngôi vô địch Premier League mùa này. Nhưng sau tất cả, anh có lẽ mới chính là biểu tượng lớn nhất của một The Blues vượt qua bao trắc trở đầu mùa, chiến thắng bóng ma của mùa giải thảm họa 2015/16, để vươn tới đỉnh cao.
    Phải đến khi mùa giải 2016/17 khép lại, giới chuyên môn mới dành cho Azpilicueta một góc nhỏ để tôn vinh anh. Với việc đá chính và đá trọn toàn bộ 38 vòng Premier League, Azpilicueta là cầu thủ chơi nhiều phút nhất Chelsea mùa này. Anh là 1 trong 4 cầu thủ, cùng trung vệ Ben Gibson (M’brough), 2 thủ môn Ben Foster (WBA), Fraser Forster (Southamton) không vắng 1 phút nào trong toàn bộ giải đấu.
    Azpilicueta cũng đi vào lịch sử Premier League với tư các là cầu thủ thứ 4 (không tính thủ môn) chơi trọn vẹn số phút của cả mùa giải trong đội hình 1 CLB đăng quang. Không hề ngẫu nhiên, khi tại Chelsea, các đồng đội và CĐV The Blues đặt cho anh biệt danh “Mr Reliable – Người đáng tin cậy”.
    Khi Conte quyết định áp dụng mô hình 3-4-3, giới chuyên môn băn khoăn nhất là vai trò của cặp wing-back. Nhưng Conte có một nỗi lo khác, sát sườn hơn: vị trí trung vệ thứ 3. Ông đã có Luiz ở trái tim hàng thủ 3 người, Cahill trung vệ lệch trái nhưng Terry vừa dính chấn thương, Zouma nghỉ dài hạn và Ivanovic xuống phong độ khủng khiếp lại đang tính chuyện rời đi.
    Chỉ còn Azpilicueta, người luôn thi đấu với sự ổn định và bền bỉ kể từ khi gia nhập Chelsea, bất chấp CLB lúc thăng lúc trầm. Nhưng Azpilicueta, dù có tiếng đa năng, có thể chơi tốt ở cả 2 biên, từ hậu vệ cánh đến wing-back nhưng lại chưa từng đá như 1 trung vệ.
    Nếu 3-4-3 là một “canh bạc” lớn thì sử dụng Azpilicueta có thể coi là “tiếng bạc” mang tính quyết định của Conte. Nhưng với một người, mà cả sự nghiệp cầu thủ lẫn HLV, có thể gói gọn trong một chữ “Điên” như Conte thì có gì mà ông không dám làm nếu nhìn thấy dù chỉ 1% cơ hội thành công.
    ất nhiên, Azpilicueta – người từng được Jose Mourinho mô tả hồi tháng 10/2013 với đại ý rằng: “nếu một đội bóng có 11 cầu thủ như Azpilicueta, đội bóng đó chắc chắn vô địch Champions League” – là một tiếng bạc có tỉ lệ thắng cao hơn… 1% xứng đáng để Conte theo đến cùng.
    Những gì diễn ra sau đó, khi Conte áp dụng 3-4-3 với Azpilicueta đá trung vệ lệch phải, chúng ta đều đã biết. Những thắng lợi liên tiếp, một quãng thời gian dài ngự trị trên ngôi đầu và cuối cùng chức vô địch Premier League đầy thuyết phục.
    Dương Vân

    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    Nhờ “tiếng bạc” quyết định Azpilicueta, Conte thắng cả canh bạc lớn

    DAVID NGUYEN  |  at  8:27:00 AM

    Chelsea đã đăng quang Premier League 2016/17. Với kỉ lục về số trận thắng trong 1 mùa giải. Antonio Conte, kiến trúc sư cho thành công của The Blues được vinh danh ở các giải thưởng HLV xuất sắc nhất.
    “Cỗ máy hoàn hảo” N’golo Kante gây bão ở mọi cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất. Eden Hazard, như chính anh thừa nhận, đã có 1 mùa giải hay nhất trong sự nghiệp. Phong độ chói sáng không-ai-ngờ-tới của cặp cánh Marcos Alonso – Victor Moses. Những bàn thắng của Diego Costa.
    Còn gì nữa? Sự bùng nổ của Cesc Fabregas ở nửa sau mùa giải. Những khoảnh khắc vi diệu mang tính bước ngoặt của Pedro. Một Gary Cahill thay thế xuất sắc vai trò thủ quân và thủ lĩnh hàng thủ của John Terry. Một David Luiz đã chiến đấu với tinh thần không-nói-chết dù nhiều tháng liền xung trận với cơn đau âm ỉ ở đầu gối. Một Courtois, càng chơi càng hay để kết thúc mùa giải với danh hiệu “Găng tay vàng”.
    Cesar Azpilicueta có lẽ là người kém nổi bật hơn cả trong đội hình Chelsea lên ngôi vô địch Premier League mùa này. Nhưng sau tất cả, anh có lẽ mới chính là biểu tượng lớn nhất của một The Blues vượt qua bao trắc trở đầu mùa, chiến thắng bóng ma của mùa giải thảm họa 2015/16, để vươn tới đỉnh cao.
    Phải đến khi mùa giải 2016/17 khép lại, giới chuyên môn mới dành cho Azpilicueta một góc nhỏ để tôn vinh anh. Với việc đá chính và đá trọn toàn bộ 38 vòng Premier League, Azpilicueta là cầu thủ chơi nhiều phút nhất Chelsea mùa này. Anh là 1 trong 4 cầu thủ, cùng trung vệ Ben Gibson (M’brough), 2 thủ môn Ben Foster (WBA), Fraser Forster (Southamton) không vắng 1 phút nào trong toàn bộ giải đấu.
    Azpilicueta cũng đi vào lịch sử Premier League với tư các là cầu thủ thứ 4 (không tính thủ môn) chơi trọn vẹn số phút của cả mùa giải trong đội hình 1 CLB đăng quang. Không hề ngẫu nhiên, khi tại Chelsea, các đồng đội và CĐV The Blues đặt cho anh biệt danh “Mr Reliable – Người đáng tin cậy”.
    Khi Conte quyết định áp dụng mô hình 3-4-3, giới chuyên môn băn khoăn nhất là vai trò của cặp wing-back. Nhưng Conte có một nỗi lo khác, sát sườn hơn: vị trí trung vệ thứ 3. Ông đã có Luiz ở trái tim hàng thủ 3 người, Cahill trung vệ lệch trái nhưng Terry vừa dính chấn thương, Zouma nghỉ dài hạn và Ivanovic xuống phong độ khủng khiếp lại đang tính chuyện rời đi.
    Chỉ còn Azpilicueta, người luôn thi đấu với sự ổn định và bền bỉ kể từ khi gia nhập Chelsea, bất chấp CLB lúc thăng lúc trầm. Nhưng Azpilicueta, dù có tiếng đa năng, có thể chơi tốt ở cả 2 biên, từ hậu vệ cánh đến wing-back nhưng lại chưa từng đá như 1 trung vệ.
    Nếu 3-4-3 là một “canh bạc” lớn thì sử dụng Azpilicueta có thể coi là “tiếng bạc” mang tính quyết định của Conte. Nhưng với một người, mà cả sự nghiệp cầu thủ lẫn HLV, có thể gói gọn trong một chữ “Điên” như Conte thì có gì mà ông không dám làm nếu nhìn thấy dù chỉ 1% cơ hội thành công.
    ất nhiên, Azpilicueta – người từng được Jose Mourinho mô tả hồi tháng 10/2013 với đại ý rằng: “nếu một đội bóng có 11 cầu thủ như Azpilicueta, đội bóng đó chắc chắn vô địch Champions League” – là một tiếng bạc có tỉ lệ thắng cao hơn… 1% xứng đáng để Conte theo đến cùng.
    Những gì diễn ra sau đó, khi Conte áp dụng 3-4-3 với Azpilicueta đá trung vệ lệch phải, chúng ta đều đã biết. Những thắng lợi liên tiếp, một quãng thời gian dài ngự trị trên ngôi đầu và cuối cùng chức vô địch Premier League đầy thuyết phục.
    Dương Vân

    Vâng, chưa thể nói trước điều gì, nhưng khả năng Real Madrid trở thành CLB đầu tiên vô địch Champions League trong 2 mùa bóng liên tiếp hiện đã rất gần với sự thật. Và với một Zidane từng thừa nhận chỉ mới cách nay vài tuần, rằng chính ông chưa biết tương lai của mình sẽ như thế nào, giới bình luận sẽ nói gì nếu kỳ này Zidane và Real lại thắng? Có thể xem đấy là một HLV vĩ đại?

    Hiện chỉ có thể nói chắc một điều: không hề có cái gọi là “triết lý Zidane”. Nói đúng hơn thì dù có cũng chưa ai nhìn nhận. Sự nghiệp huấn luyện đỉnh cao của Zidane còn chưa đến 2 mùa bóng. Mùa trước, Zidane chỉ được Real chọn thay Rafael Benitez sau đợt nghỉ Đông, nghĩa là đã vào nửa sau của mùa bóng, và đấy là lần đầu tiên Zidane giữ ghế HLV trưởng. Triết lý... thế nào được!

    Trớ trêu ở chỗ, đôi khi đấy lại chính là nguyên nhân thành công. Trước đây, tiểu ban kỹ thuật của UEFA rất hay lặp đi lặp lại một điều trong mỗi mùa Hè, khi họ đúc kết mùa bóng ở Champions League: vẫn chưa có đội nào bảo vệ thành công danh hiệu vô địch Champions League. Sở dĩ như thế là vì cách chơi của nhà vô địch Champions League luôn trở thành đề tài hấp dẫn nhất, mời gọi các bộ óc vĩ đại trong làng huấn luyện tìm cách... phá. Mà trong bóng đá, cũng như trong cuộc sống, phá luôn là việc dễ làm.

    Những HLV nổi tiếng như Pep Guardiola hoặc Jose Mourinho luôn huấn luyện đội bóng của họ theo một con đường nhất định, dựa trên triết lý riêng của họ. Đội bóng của họ từ đó được định hình với những đặc điểm, phong cách, lối chơi đặc sắc, không lẫn vào đâu được. Rất hay, nếu như mọi chuyện ổn thỏa. Nhưng cách huấn luyện theo triết lý riêng luôn làm nảy sinh hàng loạt hệ quả bất lợi.


    Vì mọi cầu thủ đều phải gò mình vào triết lý của nhà cầm quân nên kỷ luật chiến thuật luôn là yêu cầu cao nhất. Mà kỷ luật và sự sáng tạo lại là hai yếu tố... tỷ lệ nghịch với nhau. Trong cách chơi của Mourinho hoặc Pep, cầu thủ đâu thể tự do bay bổng, đá theo cách riêng của họ! Một vài tình huống ngẫu nhiên, may ra còn được chấp nhận. 

    Nhưng tóm lại, dứt khoát cứ phải đá theo một kiểu. Dễ “bắt bài” đã đành, cách chơi như thế còn khó phát huy nếu một hoặc vài mắt xích trong cả hệ thống bỗng rớt phong độ. Mà hễ bàn về phong độ, hãy nghe HLV Arsene Wenger đúc kết: “Theo kinh nghiệm của tôi, số đông cầu thủ nhà nghề thường chỉ chơi được 85-90% phong độ tốt nhất của họ, trong phần lớn thời gian”.

    Không có triết lý, như Zidane, thì chưa biết đội bóng sẽ đá kiểu nào. Và tất nhiên đối thủ cũng không thể có một xuất phát điểm để tính bài cản phá. Mặt khác, cầu thủ sẽ có điều kiện phát huy sự sáng tạo đến mức tối đa. Với đẳng cấp cao và kinh nghiệm trận mạc phong phú, các ngôi sao hàng đầu thế giới sẽ chơi bóng một cách tự nhiên, chứ đừng nghĩ họ sẽ chơi một cách lộn xộn, khi không bị trói vào một triết lý bóng đá cụ thể.

    Real của Zidane đang là một đội như thế. Hấp dẫn ở chỗ, Juventus của HLV Max Allegri càng là một đội như thế. Allegri thì quá giỏi rồi. Cứ nhìn vào một Juventus công thủ toàn diện, luôn cân bằng về mọi mặt, khắc biết. Và khi Juventus không hề giới thiệu những đường nét riêng đặc sắc trong cách chơi của họ, thì đấy chính là chủ trương của Allegri. Tùy vào đối phương, hoàn cảnh, tình huống cụ thể mà Juventus quyết định họ sẽ tấn công kiểu gì. Trận chung kết Juventus - Real kỳ này sẽ rất hay, ở chỗ chẳng ai dùng triết lý nào.


    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    Real Madrid: Không có triết lý mới hay

    DAVID NGUYEN  |  at  1:14:00 PM

    Vâng, chưa thể nói trước điều gì, nhưng khả năng Real Madrid trở thành CLB đầu tiên vô địch Champions League trong 2 mùa bóng liên tiếp hiện đã rất gần với sự thật. Và với một Zidane từng thừa nhận chỉ mới cách nay vài tuần, rằng chính ông chưa biết tương lai của mình sẽ như thế nào, giới bình luận sẽ nói gì nếu kỳ này Zidane và Real lại thắng? Có thể xem đấy là một HLV vĩ đại?

    Hiện chỉ có thể nói chắc một điều: không hề có cái gọi là “triết lý Zidane”. Nói đúng hơn thì dù có cũng chưa ai nhìn nhận. Sự nghiệp huấn luyện đỉnh cao của Zidane còn chưa đến 2 mùa bóng. Mùa trước, Zidane chỉ được Real chọn thay Rafael Benitez sau đợt nghỉ Đông, nghĩa là đã vào nửa sau của mùa bóng, và đấy là lần đầu tiên Zidane giữ ghế HLV trưởng. Triết lý... thế nào được!

    Trớ trêu ở chỗ, đôi khi đấy lại chính là nguyên nhân thành công. Trước đây, tiểu ban kỹ thuật của UEFA rất hay lặp đi lặp lại một điều trong mỗi mùa Hè, khi họ đúc kết mùa bóng ở Champions League: vẫn chưa có đội nào bảo vệ thành công danh hiệu vô địch Champions League. Sở dĩ như thế là vì cách chơi của nhà vô địch Champions League luôn trở thành đề tài hấp dẫn nhất, mời gọi các bộ óc vĩ đại trong làng huấn luyện tìm cách... phá. Mà trong bóng đá, cũng như trong cuộc sống, phá luôn là việc dễ làm.

    Những HLV nổi tiếng như Pep Guardiola hoặc Jose Mourinho luôn huấn luyện đội bóng của họ theo một con đường nhất định, dựa trên triết lý riêng của họ. Đội bóng của họ từ đó được định hình với những đặc điểm, phong cách, lối chơi đặc sắc, không lẫn vào đâu được. Rất hay, nếu như mọi chuyện ổn thỏa. Nhưng cách huấn luyện theo triết lý riêng luôn làm nảy sinh hàng loạt hệ quả bất lợi.


    Vì mọi cầu thủ đều phải gò mình vào triết lý của nhà cầm quân nên kỷ luật chiến thuật luôn là yêu cầu cao nhất. Mà kỷ luật và sự sáng tạo lại là hai yếu tố... tỷ lệ nghịch với nhau. Trong cách chơi của Mourinho hoặc Pep, cầu thủ đâu thể tự do bay bổng, đá theo cách riêng của họ! Một vài tình huống ngẫu nhiên, may ra còn được chấp nhận. 

    Nhưng tóm lại, dứt khoát cứ phải đá theo một kiểu. Dễ “bắt bài” đã đành, cách chơi như thế còn khó phát huy nếu một hoặc vài mắt xích trong cả hệ thống bỗng rớt phong độ. Mà hễ bàn về phong độ, hãy nghe HLV Arsene Wenger đúc kết: “Theo kinh nghiệm của tôi, số đông cầu thủ nhà nghề thường chỉ chơi được 85-90% phong độ tốt nhất của họ, trong phần lớn thời gian”.

    Không có triết lý, như Zidane, thì chưa biết đội bóng sẽ đá kiểu nào. Và tất nhiên đối thủ cũng không thể có một xuất phát điểm để tính bài cản phá. Mặt khác, cầu thủ sẽ có điều kiện phát huy sự sáng tạo đến mức tối đa. Với đẳng cấp cao và kinh nghiệm trận mạc phong phú, các ngôi sao hàng đầu thế giới sẽ chơi bóng một cách tự nhiên, chứ đừng nghĩ họ sẽ chơi một cách lộn xộn, khi không bị trói vào một triết lý bóng đá cụ thể.

    Real của Zidane đang là một đội như thế. Hấp dẫn ở chỗ, Juventus của HLV Max Allegri càng là một đội như thế. Allegri thì quá giỏi rồi. Cứ nhìn vào một Juventus công thủ toàn diện, luôn cân bằng về mọi mặt, khắc biết. Và khi Juventus không hề giới thiệu những đường nét riêng đặc sắc trong cách chơi của họ, thì đấy chính là chủ trương của Allegri. Tùy vào đối phương, hoàn cảnh, tình huống cụ thể mà Juventus quyết định họ sẽ tấn công kiểu gì. Trận chung kết Juventus - Real kỳ này sẽ rất hay, ở chỗ chẳng ai dùng triết lý nào.


    Ban tổ chức Madrid Masters đã đặc cách cho Sharapova. Ban tổ chức Rome Masters đã đặc cách cho Sharapova. Nhưng ban tổ chức Roland Garros thì không. Tại sao Masha đã trở lại thi đấu được 5 tuần sau án cấm 15 tháng vì dương tính với meldonium mà Ban tổ chức Roland Garros vẫn quay lưng lại với cô?

    Chúng tôi rất tiếc. Chúng tôi biết Masha và các fan của cô ấy sẽ thất vọng. Nhưng chúng tôi muốn bảo vệ môn thể thao này, bảo vệ những chuẩn mực cao vời của quần vợt. Các tay vợt trở lại thi đấu sau chấn thương thì có thể được đặc cách nhưng các tay vợt trở lại sau khi mãn án cấm thi đấu thì không thể”, Chủ tịch Liên đoàn quần vợt Pháp (FFT) Bernard Giudicelli giải thích về quyết định không cấp quyền đặc cách dự Roland Garros cho nhà vô địch 2 lần của Roland Garros các năm 2012, 2014.
    Nhưng liệu quyết định của FFT có xác đáng hay không? Đầu tiên phải khẳng định đây chỉ là quyết định đơn phương của ban tổ chức Roland Garros. Tuyên bố từ chối Sharapova để bảo vệ quần vợt chân chính của Chủ tịch FFT thực sự là nực cười bởi lẽ những gì ông Bernard Giudicelli nói không khác nào là sự phỉ báng đối với những quyết định đặc cách cho Masha dự Madrid Masters và Rome Masters trước đó của ban tổ chức các giải Masters 1000 này.
    Với việc đơn phương từ chối Sharapova, Ban tổ chức Roland Garros thực tế đã tự đặt ra chuẩn mực của riêng mình trong toàn bộ hệ thống quần vợt thế giới. Đấy là điều hết sức buồn cười bởi dù là một trong 4 giải lớn quan trọng nhất, Roland Garros cũng không thể tách rời khỏi hệ thống thi đấu của quần vợt thế giới nói chung.
    Giải đấu nào cũng cần sự ủng hộ của khán giả và khán giả muốn thấy sự hiện diện của các ngôi sao hàng đầu. Sẽ thế nào khi Roland Garros 2017 đã vắng bóng Serena William (mang bầu), vắng bóng Roger Federer (rút lui) và bây giờ vắng bóng tiếp Maria Sharapova?
    Không khó để hình dung về những khán đài trống vắng ở giải đất nện lớn nhất năm mà sự vắng mặt của Sharapova chắc chắn là một trong những nguyên nhân. Nên nhớ, bất chấp sự tổn hại hình ảnh không tránh khỏi sau vụ dương tính với Meldonium và bị cấm thi đấu 15 tháng, Sharapova vẫn là tay vợt nữ có sức hút hàng đầu với các CĐV, sở hữu lượng fan đông đảo bậc nhất bởi hồ sơ sự nghiệp sáng láng với 5 lần vô địch Grand Slam, bởi vẻ bề ngoài bắt mắt...
    Roland Garros từ chối Sharapova là nực cười
    Khi quyết định từ chối Sharapova, ban tổ chức Roland Garros đã bảo vệ cái gì và đại diện cho ai? Trả lời: Họ không bảo vệ lợi ích, gìn giữ hình ảnh hay bảo vệ chuẩn mực nào của quần vợt ở đây cả mà thực chất họ chỉ thể hiện sự cao ngạo và “luật” riêng của mình.
    Sự thật là Sharapova đã sai lầm (dù vô tình hay cố tình) nhưng cô đã phải trả giá. Sự công bằng và tôn chỉ của thể thao chân chính nói chung và quần vợt nói riêng đã được thực thi. Masha không “nợ” Roland Garros bất cứ điều gì. Cô xứng đáng và cần phải được chào đón trở lại thi đấu bởi WTA nói riêng và tennis thế giới nói chung luôn cần sự hiện diện của những ngôi sao đích thực. Khán giả cần sự hiện diện của những tay vợt hàng đầu.
    Nhưng với việc từ chối Sharapova, BTC Roland Garros đã hành động vì lợi ích của riêng họ, đã đặt quyền lợi và sự cao ngạo của họ lên trên quyền lợi, nguyện vọng của khán giả toàn cầu. Đó là lí do vì sao quyết định từ chối cấp suất đặc cách cho Sharapova dự Roland Garros là một quyết định vô lí và đáng bị phê phán.
    Nó bất công với Masha. Bất công với cả các fan của cô lẫn những khán giả trung lập đơn giản là chỉ muốn được chứng kiến những trận đấu có chất lượng, hấp dẫn mà chỉ những tay vợt tài năng như Sharapova mới có thể tạo ra. Chính CEO của WTA Steve Simon cũng cho rằng Masha lẽ ra không đáng bị trừng phạt thêm nữa. Đó là bằng chứng cho thấy quyết định của FFT thật “bê bối”.


    tennis

    Thật bất công khi Sharapova không được đặc cách dự Roland Garros!

    DAVID NGUYEN  |  at  12:55:00 PM

    Ban tổ chức Madrid Masters đã đặc cách cho Sharapova. Ban tổ chức Rome Masters đã đặc cách cho Sharapova. Nhưng ban tổ chức Roland Garros thì không. Tại sao Masha đã trở lại thi đấu được 5 tuần sau án cấm 15 tháng vì dương tính với meldonium mà Ban tổ chức Roland Garros vẫn quay lưng lại với cô?

    Chúng tôi rất tiếc. Chúng tôi biết Masha và các fan của cô ấy sẽ thất vọng. Nhưng chúng tôi muốn bảo vệ môn thể thao này, bảo vệ những chuẩn mực cao vời của quần vợt. Các tay vợt trở lại thi đấu sau chấn thương thì có thể được đặc cách nhưng các tay vợt trở lại sau khi mãn án cấm thi đấu thì không thể”, Chủ tịch Liên đoàn quần vợt Pháp (FFT) Bernard Giudicelli giải thích về quyết định không cấp quyền đặc cách dự Roland Garros cho nhà vô địch 2 lần của Roland Garros các năm 2012, 2014.
    Nhưng liệu quyết định của FFT có xác đáng hay không? Đầu tiên phải khẳng định đây chỉ là quyết định đơn phương của ban tổ chức Roland Garros. Tuyên bố từ chối Sharapova để bảo vệ quần vợt chân chính của Chủ tịch FFT thực sự là nực cười bởi lẽ những gì ông Bernard Giudicelli nói không khác nào là sự phỉ báng đối với những quyết định đặc cách cho Masha dự Madrid Masters và Rome Masters trước đó của ban tổ chức các giải Masters 1000 này.
    Với việc đơn phương từ chối Sharapova, Ban tổ chức Roland Garros thực tế đã tự đặt ra chuẩn mực của riêng mình trong toàn bộ hệ thống quần vợt thế giới. Đấy là điều hết sức buồn cười bởi dù là một trong 4 giải lớn quan trọng nhất, Roland Garros cũng không thể tách rời khỏi hệ thống thi đấu của quần vợt thế giới nói chung.
    Giải đấu nào cũng cần sự ủng hộ của khán giả và khán giả muốn thấy sự hiện diện của các ngôi sao hàng đầu. Sẽ thế nào khi Roland Garros 2017 đã vắng bóng Serena William (mang bầu), vắng bóng Roger Federer (rút lui) và bây giờ vắng bóng tiếp Maria Sharapova?
    Không khó để hình dung về những khán đài trống vắng ở giải đất nện lớn nhất năm mà sự vắng mặt của Sharapova chắc chắn là một trong những nguyên nhân. Nên nhớ, bất chấp sự tổn hại hình ảnh không tránh khỏi sau vụ dương tính với Meldonium và bị cấm thi đấu 15 tháng, Sharapova vẫn là tay vợt nữ có sức hút hàng đầu với các CĐV, sở hữu lượng fan đông đảo bậc nhất bởi hồ sơ sự nghiệp sáng láng với 5 lần vô địch Grand Slam, bởi vẻ bề ngoài bắt mắt...
    Roland Garros từ chối Sharapova là nực cười
    Khi quyết định từ chối Sharapova, ban tổ chức Roland Garros đã bảo vệ cái gì và đại diện cho ai? Trả lời: Họ không bảo vệ lợi ích, gìn giữ hình ảnh hay bảo vệ chuẩn mực nào của quần vợt ở đây cả mà thực chất họ chỉ thể hiện sự cao ngạo và “luật” riêng của mình.
    Sự thật là Sharapova đã sai lầm (dù vô tình hay cố tình) nhưng cô đã phải trả giá. Sự công bằng và tôn chỉ của thể thao chân chính nói chung và quần vợt nói riêng đã được thực thi. Masha không “nợ” Roland Garros bất cứ điều gì. Cô xứng đáng và cần phải được chào đón trở lại thi đấu bởi WTA nói riêng và tennis thế giới nói chung luôn cần sự hiện diện của những ngôi sao đích thực. Khán giả cần sự hiện diện của những tay vợt hàng đầu.
    Nhưng với việc từ chối Sharapova, BTC Roland Garros đã hành động vì lợi ích của riêng họ, đã đặt quyền lợi và sự cao ngạo của họ lên trên quyền lợi, nguyện vọng của khán giả toàn cầu. Đó là lí do vì sao quyết định từ chối cấp suất đặc cách cho Sharapova dự Roland Garros là một quyết định vô lí và đáng bị phê phán.
    Nó bất công với Masha. Bất công với cả các fan của cô lẫn những khán giả trung lập đơn giản là chỉ muốn được chứng kiến những trận đấu có chất lượng, hấp dẫn mà chỉ những tay vợt tài năng như Sharapova mới có thể tạo ra. Chính CEO của WTA Steve Simon cũng cho rằng Masha lẽ ra không đáng bị trừng phạt thêm nữa. Đó là bằng chứng cho thấy quyết định của FFT thật “bê bối”.


    Ở tuổi 39, Buffon vẫn chơi bóng với phong độ đỉnh cao. Thậm chí phong độ hiện nay, so với thuở cùng Italia vô địch World Cup 2006, không ai có thể trả lời được đâu là Buffon tốt hơn. Ngày ấy Buffon dẻo dai hơn, phản xạ tốt hơn. Nhưng bây giờ anh chỉ huy hàng thủ tốt hơn, chọn vị trí tốt hơn và phán đoán tình huống chuẩn hơn.

    World Cup 2006, tức là đã 11 năm trôi qua. Chúng ta phải lùi về trước đó thêm 11 năm nữa mới tới thời điểm Buffon khởi nghiệp trong màu áo Parma. Năm 1998, khi Kevin Mbappe ra đời, Buffon đã dự kỳ World Cup đầu tiên trong sự nghiệp. Tính theo vai vế, Mbappe phải gọi Buffon là bác, vì Buffon lớn tuổi hơn cả bố anh. 

    “Thời gian thật đẹp”, Buffon nói như thế khi đối đầu với tiền đạo kém anh tới cả... thế hệ. Và sau trận đấu, Buffon đến đổi áo với Mbappe. “Khi còn trẻ, tôi từng đến xin đổi áo với người đàn anh mà mình hâm mộ nhưng bị từ chối. Và tôi căm ghét cảm giác ấy”, Buffon nói.

    Một hành động nhỏ, nhưng sẽ có ý nghĩa lớn với Mbappe. 18 tuổi, Mbappe hãy còn quá trẻ và còn cả một quãng đời phía trước. Nếu thất bại năm nay, Mbappe hoàn toàn có thể khởi đầu lại. Nhưng với Buffon, cứ mỗi mùa giải trôi qua, cơ hội để anh hoàn thành giấc mơ cuối cùng của sự nghiệp là Champions League sẽ lại càng mong manh hơn.

    Buffon đã trải qua mọi thăng trầm trong sự nghiệp. Từ đỉnh cao chói lọi với chiếc Cúp vàng World Cup cho đến tận cùng tăm tối khi phải xuống chơi tại Serie B với Juventus. Không như Alessandro del Piero đã trưởng thành tại đây, Buffon không có ràng buộc tình cảm với Juventus.


    Nếu anh bỏ đi như Fabio Cannavaro, Lilian Thuram hay Zlatan Ibrahimovic, không ai có thể trách anh. Nhưng Buffon mạo hiểm sự nghiệp đỉnh cao để ở lại Juve. Nghĩa tình ấy không phải cầu thủ nào cũng có được. Và vì thế, nhiều người dù chả phải là fan của Buffon, cũng chả phải là Juvetini, cũng mong Buffon có được cái kết viên mãn.

    Người ta sẽ nhớ cú đúp của Paulo Dybala vào lưới Barcelona, người ta cũng sẽ nhớ cú đúp của Higuain vào lưới Monaco mới đây. Nhưng HLV Max Allegri, trên phương diện là một người đứng bên đường piste, sẽ luôn nhớ những pha cứu thua của Buffon nhiều hơn. Vì nó là nền tảng cho mọi thành công của Juve mùa này. 

    Buffon đã chơi với những cầu thủ sinh trong thập niên 1950, anh sẽ kết thúc sự nghiệp với những cầu thủ sinh trong thập niên 2000. Câu chuyện của một người băng qua những cột mốc đổi thay của bóng đá thế giới sẽ được nhớ mãi. Tài năng của anh sẽ được nhớ mãi. Sự tận tụy của Buffon sẽ được ca ngợi mãi. Và việc anh có vô địch Champions League hay không chỉ là phụ gia cho câu chuyện ấy mà thôi. Người ta đến giờ vẫn yêu Roberto Baggio, dù anh không vô địch Champions League, EURO hay World Cup. 

    Sự dở dang luôn có những nét đẹp của nó. Suy cho cùng, anh cũng chỉ là một thủ môn, là người vớt vát lại những sai lầm của đồng đội, chứ khó có thể xoay chuyển cục diện trận đấu. Rinat Dasayev vẫn vĩ đại dù không thể đỡ nổi cú sút của Marco van Basten. Và khi đã có chức vô địch Champions League, Buffon sẽ sớm cân nhắc quyết định giải nghệ. Lúc ấy các fan sẽ buồn theo lời anh muốn, nhưng lại là buồn theo một cách khác.

    Trần Minh
      10:31 ngày 05-05-2017
    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    Buffon: Nét đẹp của sự dang dở

    DAVID NGUYEN  |  at  11:58:00 AM

    Ở tuổi 39, Buffon vẫn chơi bóng với phong độ đỉnh cao. Thậm chí phong độ hiện nay, so với thuở cùng Italia vô địch World Cup 2006, không ai có thể trả lời được đâu là Buffon tốt hơn. Ngày ấy Buffon dẻo dai hơn, phản xạ tốt hơn. Nhưng bây giờ anh chỉ huy hàng thủ tốt hơn, chọn vị trí tốt hơn và phán đoán tình huống chuẩn hơn.

    World Cup 2006, tức là đã 11 năm trôi qua. Chúng ta phải lùi về trước đó thêm 11 năm nữa mới tới thời điểm Buffon khởi nghiệp trong màu áo Parma. Năm 1998, khi Kevin Mbappe ra đời, Buffon đã dự kỳ World Cup đầu tiên trong sự nghiệp. Tính theo vai vế, Mbappe phải gọi Buffon là bác, vì Buffon lớn tuổi hơn cả bố anh. 

    “Thời gian thật đẹp”, Buffon nói như thế khi đối đầu với tiền đạo kém anh tới cả... thế hệ. Và sau trận đấu, Buffon đến đổi áo với Mbappe. “Khi còn trẻ, tôi từng đến xin đổi áo với người đàn anh mà mình hâm mộ nhưng bị từ chối. Và tôi căm ghét cảm giác ấy”, Buffon nói.

    Một hành động nhỏ, nhưng sẽ có ý nghĩa lớn với Mbappe. 18 tuổi, Mbappe hãy còn quá trẻ và còn cả một quãng đời phía trước. Nếu thất bại năm nay, Mbappe hoàn toàn có thể khởi đầu lại. Nhưng với Buffon, cứ mỗi mùa giải trôi qua, cơ hội để anh hoàn thành giấc mơ cuối cùng của sự nghiệp là Champions League sẽ lại càng mong manh hơn.

    Buffon đã trải qua mọi thăng trầm trong sự nghiệp. Từ đỉnh cao chói lọi với chiếc Cúp vàng World Cup cho đến tận cùng tăm tối khi phải xuống chơi tại Serie B với Juventus. Không như Alessandro del Piero đã trưởng thành tại đây, Buffon không có ràng buộc tình cảm với Juventus.


    Nếu anh bỏ đi như Fabio Cannavaro, Lilian Thuram hay Zlatan Ibrahimovic, không ai có thể trách anh. Nhưng Buffon mạo hiểm sự nghiệp đỉnh cao để ở lại Juve. Nghĩa tình ấy không phải cầu thủ nào cũng có được. Và vì thế, nhiều người dù chả phải là fan của Buffon, cũng chả phải là Juvetini, cũng mong Buffon có được cái kết viên mãn.

    Người ta sẽ nhớ cú đúp của Paulo Dybala vào lưới Barcelona, người ta cũng sẽ nhớ cú đúp của Higuain vào lưới Monaco mới đây. Nhưng HLV Max Allegri, trên phương diện là một người đứng bên đường piste, sẽ luôn nhớ những pha cứu thua của Buffon nhiều hơn. Vì nó là nền tảng cho mọi thành công của Juve mùa này. 

    Buffon đã chơi với những cầu thủ sinh trong thập niên 1950, anh sẽ kết thúc sự nghiệp với những cầu thủ sinh trong thập niên 2000. Câu chuyện của một người băng qua những cột mốc đổi thay của bóng đá thế giới sẽ được nhớ mãi. Tài năng của anh sẽ được nhớ mãi. Sự tận tụy của Buffon sẽ được ca ngợi mãi. Và việc anh có vô địch Champions League hay không chỉ là phụ gia cho câu chuyện ấy mà thôi. Người ta đến giờ vẫn yêu Roberto Baggio, dù anh không vô địch Champions League, EURO hay World Cup. 

    Sự dở dang luôn có những nét đẹp của nó. Suy cho cùng, anh cũng chỉ là một thủ môn, là người vớt vát lại những sai lầm của đồng đội, chứ khó có thể xoay chuyển cục diện trận đấu. Rinat Dasayev vẫn vĩ đại dù không thể đỡ nổi cú sút của Marco van Basten. Và khi đã có chức vô địch Champions League, Buffon sẽ sớm cân nhắc quyết định giải nghệ. Lúc ấy các fan sẽ buồn theo lời anh muốn, nhưng lại là buồn theo một cách khác.

    Trần Minh
      10:31 ngày 05-05-2017

    Một trong những ông lớn của bóng đá Italia, AC Milan đã chính thức thuộc sở hữu của nhóm tỷ phú người Trung Quốc, chấm dứt nhiệm kỳ 31 năm của Silvio Berlusconi. Nhân dịp này hãy cùng Bóng đá cuộc sống nhìn lại con người đầy tai tiếng này.
    “577 chuyến viếng thăm của cảnh sát, 2.500 phiên điều trần trước tòa, 175 triệu euro chi phí luật sư”, đó chỉ là con số do chính ông chủ Silvio Berlusconi của AC Milan tạm tính. 18 phiên tòa chính thức đã được mở ra, nhưng chưa một lần nào nhà tài phiệt phải ngồi tù. Ông là một chuyên gia hầu tòa thượng thặng.

    LÀM GIÀU CHÓNG MẶTSilvio Berlusconi được biết đến nhiều nhất với tư cách cựu thủ tướng Italia. Nhưng ông cũng đồng thời nổi tiếng là một thương nhân giàu có. Ông từng xếp hàng 118 thế giới về tài sản. Ông khởi nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng ở thập kỷ 1960, và thành công chóng mặt. Chỉ sau chưa đầy 10 năm, Berlusconi đã trở thành chủ đầu tư của những siêu dự án bất động sản. Nổi tiếng nhất là Milano Due, một tổ hợp bao gồm… 10.500 căn hộ được xây dựng ở ngoại ô Milan.

    Năm 1973, Berlusconi bắt đầu tham gia vào kinh doanh truyền thông. Ban đầu, ông chỉ sở hữu một kênh truyền hình nhỏ, nhưng sau đó, với việc mua lại 2 kênh khác ông lập nên Fivinest, công ty sau này trở thành tập đoàn truyền thông lớn nhất Italia (đồng thời là công ty mẹ của AC Milan) vào năm 1978. 
    Berlusconi nhanh chóng giàu lên từ truyền thôngBerlusconi nhanh chóng giàu lên từ truyền thông
    Trong 5 năm đầu, số tiền mà công ty này mang lại cho Berlusconi đã lên tới 113 tỷ lia (tương đương với khoảng gần 60 triệu euro ngày nay). Hệ thống kênh truyền hình mà nhà kinh doanh này tạo ra đã phá vỡ thế độc tôn ở tầm quốc gia của RAI, hãng truyền hình của nhà nước Italia, bằng cả những biện pháp kinh doanh khôn ngoan và những phiên tòa.

    Nhưng đằng sau những dự án có thể khiến người ta choáng ngợp vì thiên tài kinh doanh Silvio Berlusconi ấy, là những nghi vấn không ngừng về bàn tay trợ giúp của những thế lực xã hội đen.
    NHỮNG NGHI VẤN VÔ TẬN
    Berlusconi tất nhiên là biết cách đầu tư đúng đắn. Ở San Siro, Berlusconi từng chỉ phải trả cho HLV Massimiliano Allegri có 500 nghìn euro/năm để ông này xác lập trật tự cho đội hình Milan và đưa họ đến chức vô địch Serie A 2010/11. Ở ngoài đời, có kẻ bảo rằng cũng với mục đích “giữ cho mọi thứ đúng với trật tự”, ông chi một khoản tương đương cho… mafia.

    Giovanni Brusca, một tay cựu mafia bị cảnh sát Italia bắt giữ năm 1996 và giờ đang thành chỉ điểm, tố cáo rằng trong nhiều năm liền, ông chủ của Milan đã “trả khoảng 600 triệu lia” cho mafia để bảo kê những hoạt động kinh doanh trên đảo Sicily của nhà tỷ phú. 
    Nhưng ông cũng bị nghi ngờ dính líu đến mafia theo lời khai của Giovanni Brusca, tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn) Nhưng ông cũng bị nghi ngờ dính líu đến mafia theo lời khai của Giovanni Brusca, tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn)
    Tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn) này còn tiết lộ rằng đã có lúc Berlusconi ngừng trả tiền bảo kê, và “chúng tôi phải dàn xếp một cú đánh để ông ấy tiếp tục trả tiền”. Il Porco không tiết lộ “cú đánh” là gì, nhưng theo báo chí suy đoán, đó là một vụ đánh bom ở Milan năm 1986, nơi Berlusconi sống, gây ra một vài thiệt hại nhỏ.

    Có lý do chính đáng để tham khảo lời khai của Brusca, bởi hắn không phải một tay chỉ điểm cò con. Theo lời khai của chính Brusca, hắn đã “giết khoảng 100 đến 200 người”, và đã tham gia vào vụ đánh bom ám sát cố thẩm phán Giovanni Falcone, từng bắt cóc con trai của ông này, giết chết đứa bé 11 tuổi và nhúng nó vào a-xít. Và một tên tội phạm ở tầm đó chắc biết khá nhiều.

    Những cáo buộc ông chủ Milan có liên hệ với mafia của Giovanni Brusca không phải là duy nhất, và chưa phải sắt đá nhất: chính các thẩm phán Italia đã từng đưa ra tuyên bố tương tự.

    Trong phiên tòa xét xử người cộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri hồi năm ngoái, bằng một bản cáo trạng dài tới 641 trang, các thẩm phán Palermo đã khẳng định rằng Berlusconi, thông qua Dell Utri, đã “trả một lượng tiền lớn” cho mafia để đổi lấy sự bảo kê cho công việc kinh doanh. Bản thân Marcello Dell Utri cũng là một nghị sỹ, và là người cùng tham gia sáng lập đảng Forza Italia với nhà cựu thủ tướng. Ông này sau đó bị tuyên án 9 năm tù giam.
    Cộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri cũng từng bị tuyên án 9 năm tù giam vì liên quan đến mafiaCộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri cũng từng bị tuyên án 9 năm tù giam vì liên quan đến mafia
    “Ông trùm gọi tôi tới và nói về Berlusconi, ông chủ của công ty truyền hình” - cựu sát thủ Gaspare Spatuzza, người đang thụ án chung thân, kể trong một phiên tòa ở Turin năm 2009 - “Ông ta bảo rằng nhờ có sự nghiêm túc của Berlusconi và người bạn Dell’Utri của ông ta, chúng ta đã có cả nước Ý trong tay”.

    Các thẩm phán khẳng định rằng số tiền đi ra từ Fivinest đến tay mafia không chỉ để đổi lấy sự bảo kê, mà còn để đổi lấy quyền lắp đặt các trạm phát sóng truyền hình tại đảo Sicily. Khi đó, người phát ngôn của Thủ tướng khi đó nói: “Những chuyện sáng tác như vậy nên được giữ lại trong nhà giam”.

    Tất nhiên, từ những lời khai của những tên mafia và cả cáo trạng của tòa án Palermo, chưa thể khẳng định rằng Berlusconi là người được hưởng lợi từ việc trả tiền cho mafia (để triệt hạ đối thủ kinh doanh?) hay là nạn nhân của sự tống tiền (Il Porco đã nói về “cú đánh”). Thế nên phiên tòa này, Berlusconi được tuyên trắng án.
    ÔNG VẪN TRONG SẠCH
    Silvio Berlusconi từng đưa ra những con số rất chính xác về “cuộc sống pháp lý” của mình: có 789 công tố viên đã tiến hành điều tra ông từ năm 1994 tới năm 2006, ông đã phải tiếp nhận 577 chuyến viếng thăm của cảnh sát, điều trần trước tòa 2.500 lần và chi 175 triệu euro cho luật sư. Vế sau cùng có lẽ là quan trọng nhất, bởi cho đến lúc này, chưa một bản án nào được tuyên với Berlusconi.

    Trong nỗ lực bảo vệ hình ảnh, ông và Dell’Utri đã từng nhiều lần đứng ra kiện các nhà báo vì khẳng định họ có liên hệ với mafia, mà nổi tiếng nhất là Marco Travaglio, người từng viết nhiều cuốn sách về chủ đề này. Nhưng lần nào ra trước tòa, Travaglio cũng là người chiến thắng.

    Ngay cả các nhà báo Italia cũng khẳng định rằng: cho tới khi có một bản án chính thức được tuyên, không thể khẳng định rằng Berlusconi có tội. Ông vẫn trong sạch, thậm chí còn là một người căm ghét mafia (về mặt danh nghĩa). Berlusconi, khi còn giữ ghế Thủ tướng Italia, từng công khai tuyên chiến với mafia và quyết tâm xóa đi hình ảnh của một “quốc gia mafia” cho nước Ý. 
    Sau rất nhiều phiên tòa, Berlusconi vẫn chưa bị dính án phạt nào cảSau rất nhiều phiên tòa, Berlusconi vẫn chưa bị dính án phạt nào cả
    Nhưng có vẻ nỗ lực này của ông không thu được nhiều sự tán đồng của báo giới. Nhiều nhà báo khẳng định rằng những lời nói mạnh trên sẽ chỉ khiến sinh mạng của họ gặp thêm nguy hiểm. “Mỗi năm có hàng chục nhà báo điều tra bị mafia đe dọa. Những lời của Berlusconi chỉ làm mọi chuyện trầm trọng thêm” - Alberto Spampinato một nhà báo có anh ruột bị giết bởi mafia ở Sicily nói.

    Berlusconi giờ đã rời cương vị. Và cả nước Ý nín thở chờ đợi những phiên tòa tiếp theo dành cho “công dân” Silvio Berlusconi. Trong sạch hay không trong sạch, câu trả lời sẽ có rất nhanh.
    Phong Huyền
    GÓC AC MILAN

    Ông chủ AC Milan, thủ tướng Ý và tay hầu tòa chuyên nghiệp

    DAVID NGUYEN  |  at  5:47:00 AM

    Một trong những ông lớn của bóng đá Italia, AC Milan đã chính thức thuộc sở hữu của nhóm tỷ phú người Trung Quốc, chấm dứt nhiệm kỳ 31 năm của Silvio Berlusconi. Nhân dịp này hãy cùng Bóng đá cuộc sống nhìn lại con người đầy tai tiếng này.
    “577 chuyến viếng thăm của cảnh sát, 2.500 phiên điều trần trước tòa, 175 triệu euro chi phí luật sư”, đó chỉ là con số do chính ông chủ Silvio Berlusconi của AC Milan tạm tính. 18 phiên tòa chính thức đã được mở ra, nhưng chưa một lần nào nhà tài phiệt phải ngồi tù. Ông là một chuyên gia hầu tòa thượng thặng.

    LÀM GIÀU CHÓNG MẶTSilvio Berlusconi được biết đến nhiều nhất với tư cách cựu thủ tướng Italia. Nhưng ông cũng đồng thời nổi tiếng là một thương nhân giàu có. Ông từng xếp hàng 118 thế giới về tài sản. Ông khởi nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng ở thập kỷ 1960, và thành công chóng mặt. Chỉ sau chưa đầy 10 năm, Berlusconi đã trở thành chủ đầu tư của những siêu dự án bất động sản. Nổi tiếng nhất là Milano Due, một tổ hợp bao gồm… 10.500 căn hộ được xây dựng ở ngoại ô Milan.

    Năm 1973, Berlusconi bắt đầu tham gia vào kinh doanh truyền thông. Ban đầu, ông chỉ sở hữu một kênh truyền hình nhỏ, nhưng sau đó, với việc mua lại 2 kênh khác ông lập nên Fivinest, công ty sau này trở thành tập đoàn truyền thông lớn nhất Italia (đồng thời là công ty mẹ của AC Milan) vào năm 1978. 
    Berlusconi nhanh chóng giàu lên từ truyền thôngBerlusconi nhanh chóng giàu lên từ truyền thông
    Trong 5 năm đầu, số tiền mà công ty này mang lại cho Berlusconi đã lên tới 113 tỷ lia (tương đương với khoảng gần 60 triệu euro ngày nay). Hệ thống kênh truyền hình mà nhà kinh doanh này tạo ra đã phá vỡ thế độc tôn ở tầm quốc gia của RAI, hãng truyền hình của nhà nước Italia, bằng cả những biện pháp kinh doanh khôn ngoan và những phiên tòa.

    Nhưng đằng sau những dự án có thể khiến người ta choáng ngợp vì thiên tài kinh doanh Silvio Berlusconi ấy, là những nghi vấn không ngừng về bàn tay trợ giúp của những thế lực xã hội đen.
    NHỮNG NGHI VẤN VÔ TẬN
    Berlusconi tất nhiên là biết cách đầu tư đúng đắn. Ở San Siro, Berlusconi từng chỉ phải trả cho HLV Massimiliano Allegri có 500 nghìn euro/năm để ông này xác lập trật tự cho đội hình Milan và đưa họ đến chức vô địch Serie A 2010/11. Ở ngoài đời, có kẻ bảo rằng cũng với mục đích “giữ cho mọi thứ đúng với trật tự”, ông chi một khoản tương đương cho… mafia.

    Giovanni Brusca, một tay cựu mafia bị cảnh sát Italia bắt giữ năm 1996 và giờ đang thành chỉ điểm, tố cáo rằng trong nhiều năm liền, ông chủ của Milan đã “trả khoảng 600 triệu lia” cho mafia để bảo kê những hoạt động kinh doanh trên đảo Sicily của nhà tỷ phú. 
    Nhưng ông cũng bị nghi ngờ dính líu đến mafia theo lời khai của Giovanni Brusca, tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn) Nhưng ông cũng bị nghi ngờ dính líu đến mafia theo lời khai của Giovanni Brusca, tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn)
    Tên tội phạm được biết đến dưới biệt danh Il Porco (Con lợn) này còn tiết lộ rằng đã có lúc Berlusconi ngừng trả tiền bảo kê, và “chúng tôi phải dàn xếp một cú đánh để ông ấy tiếp tục trả tiền”. Il Porco không tiết lộ “cú đánh” là gì, nhưng theo báo chí suy đoán, đó là một vụ đánh bom ở Milan năm 1986, nơi Berlusconi sống, gây ra một vài thiệt hại nhỏ.

    Có lý do chính đáng để tham khảo lời khai của Brusca, bởi hắn không phải một tay chỉ điểm cò con. Theo lời khai của chính Brusca, hắn đã “giết khoảng 100 đến 200 người”, và đã tham gia vào vụ đánh bom ám sát cố thẩm phán Giovanni Falcone, từng bắt cóc con trai của ông này, giết chết đứa bé 11 tuổi và nhúng nó vào a-xít. Và một tên tội phạm ở tầm đó chắc biết khá nhiều.

    Những cáo buộc ông chủ Milan có liên hệ với mafia của Giovanni Brusca không phải là duy nhất, và chưa phải sắt đá nhất: chính các thẩm phán Italia đã từng đưa ra tuyên bố tương tự.

    Trong phiên tòa xét xử người cộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri hồi năm ngoái, bằng một bản cáo trạng dài tới 641 trang, các thẩm phán Palermo đã khẳng định rằng Berlusconi, thông qua Dell Utri, đã “trả một lượng tiền lớn” cho mafia để đổi lấy sự bảo kê cho công việc kinh doanh. Bản thân Marcello Dell Utri cũng là một nghị sỹ, và là người cùng tham gia sáng lập đảng Forza Italia với nhà cựu thủ tướng. Ông này sau đó bị tuyên án 9 năm tù giam.
    Cộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri cũng từng bị tuyên án 9 năm tù giam vì liên quan đến mafiaCộng sự thân thiết của Berlusconi là Marcello Dell Utri cũng từng bị tuyên án 9 năm tù giam vì liên quan đến mafia
    “Ông trùm gọi tôi tới và nói về Berlusconi, ông chủ của công ty truyền hình” - cựu sát thủ Gaspare Spatuzza, người đang thụ án chung thân, kể trong một phiên tòa ở Turin năm 2009 - “Ông ta bảo rằng nhờ có sự nghiêm túc của Berlusconi và người bạn Dell’Utri của ông ta, chúng ta đã có cả nước Ý trong tay”.

    Các thẩm phán khẳng định rằng số tiền đi ra từ Fivinest đến tay mafia không chỉ để đổi lấy sự bảo kê, mà còn để đổi lấy quyền lắp đặt các trạm phát sóng truyền hình tại đảo Sicily. Khi đó, người phát ngôn của Thủ tướng khi đó nói: “Những chuyện sáng tác như vậy nên được giữ lại trong nhà giam”.

    Tất nhiên, từ những lời khai của những tên mafia và cả cáo trạng của tòa án Palermo, chưa thể khẳng định rằng Berlusconi là người được hưởng lợi từ việc trả tiền cho mafia (để triệt hạ đối thủ kinh doanh?) hay là nạn nhân của sự tống tiền (Il Porco đã nói về “cú đánh”). Thế nên phiên tòa này, Berlusconi được tuyên trắng án.
    ÔNG VẪN TRONG SẠCH
    Silvio Berlusconi từng đưa ra những con số rất chính xác về “cuộc sống pháp lý” của mình: có 789 công tố viên đã tiến hành điều tra ông từ năm 1994 tới năm 2006, ông đã phải tiếp nhận 577 chuyến viếng thăm của cảnh sát, điều trần trước tòa 2.500 lần và chi 175 triệu euro cho luật sư. Vế sau cùng có lẽ là quan trọng nhất, bởi cho đến lúc này, chưa một bản án nào được tuyên với Berlusconi.

    Trong nỗ lực bảo vệ hình ảnh, ông và Dell’Utri đã từng nhiều lần đứng ra kiện các nhà báo vì khẳng định họ có liên hệ với mafia, mà nổi tiếng nhất là Marco Travaglio, người từng viết nhiều cuốn sách về chủ đề này. Nhưng lần nào ra trước tòa, Travaglio cũng là người chiến thắng.

    Ngay cả các nhà báo Italia cũng khẳng định rằng: cho tới khi có một bản án chính thức được tuyên, không thể khẳng định rằng Berlusconi có tội. Ông vẫn trong sạch, thậm chí còn là một người căm ghét mafia (về mặt danh nghĩa). Berlusconi, khi còn giữ ghế Thủ tướng Italia, từng công khai tuyên chiến với mafia và quyết tâm xóa đi hình ảnh của một “quốc gia mafia” cho nước Ý. 
    Sau rất nhiều phiên tòa, Berlusconi vẫn chưa bị dính án phạt nào cảSau rất nhiều phiên tòa, Berlusconi vẫn chưa bị dính án phạt nào cả
    Nhưng có vẻ nỗ lực này của ông không thu được nhiều sự tán đồng của báo giới. Nhiều nhà báo khẳng định rằng những lời nói mạnh trên sẽ chỉ khiến sinh mạng của họ gặp thêm nguy hiểm. “Mỗi năm có hàng chục nhà báo điều tra bị mafia đe dọa. Những lời của Berlusconi chỉ làm mọi chuyện trầm trọng thêm” - Alberto Spampinato một nhà báo có anh ruột bị giết bởi mafia ở Sicily nói.

    Berlusconi giờ đã rời cương vị. Và cả nước Ý nín thở chờ đợi những phiên tòa tiếp theo dành cho “công dân” Silvio Berlusconi. Trong sạch hay không trong sạch, câu trả lời sẽ có rất nhanh.
    Phong Huyền

    Như ánh sao băng cắt ngang dải thiên hà, Juan Sebastian Veron không chỉ là một cái tên mà còn là sự định nghĩa cho những gì xuất chúng nhất nhưng cũng mỏng manh nhất. “Phù thủy nhỏ” - biệt danh của anh, sử dụng phép thuật ma mị của đôi chân và khối óc để tạo nên những điểm nhấn chấm phá trong thời đại hoàng kim của Serie A. Để rồi hàng chục năm sau, những người hoài cổ và yêu cái đẹp vẫn chép miệng mà rằng: Phải chi Veron đừng sang Man Utd!

    Một ngày tháng 3 năm 1975. Plata - thành phố thủ phủ của Buenos Aires, bị chia nửa bởi trận Clasico 87 giữa Estudiantes và Gimnasia. Juan Ramon Veron khi đó là ngôi sao sáng giá nhất của Estudiantes. Không phụ lòng mong mỏi của người hâm mộ, La Bruja (Phù thủy) chơi một trận xuất sắc với vai trò là niềm cảm hứng cùng 1 bàn thắng, mang về chiến thắng 4-1 cho đội nhà.
    Juan Ramon không hề biết rằng ở thời điểm trận đấu đang diễn ra thì ở bệnh viện, vợ ông vừa hạ sinh một bé trai kháu khỉnh. HLV Carlos Bilardo đã quyết định giữ kín thông tin để không làm phân tán tư tưởng của Ramon. Đó là một ngày trọng đại của CLB, không vì trận siêu derby của thành phố - mà còn vì kết quả nó tác động đến tương lai hai đội bóng.
    Nhưng tất cả đều không ngờ được rằng, đứa trẻ ra đời trong khoảnh khắc ấy sau này sẽ tạo nên một trường sóng gió, tranh cãi và cả những bi kịch cho thế giới bóng đá, vượt xa mọi tầm ảnh hưởng mà trận derby Plata có thể phổ cập. Để kỷ niệm chiến thắng đáng nhớ ngày 9/3/1975, ông Ramon quyết định đặt tên cho đứa con trai bé bỏng là Sebastian - Juan Sebastian Veron.
    Thằng bé thừa hưởng mọi gen trội từ người cha tài năng. Sebastian càng lớn càng bộc lộ tư chất của một thiên tài, và hơn ai hết ông Ramon hiểu rõ điều đó. Không phải bàn thắng vào lưới Gimnasia, Sebastian mới là bàn thắng cuộc đời ông. Nhưng thằng bé cũng giống mẹ ở điểm cao lớn. Và vì thế, nó không thể chơi ở vị trí cầu thủ chạy cánh như cha mình. Đổi lại, tư chất thông minh và đôi chân kỹ thuật giúp Sebastian luôn trở thành ông chủ của đội bóng trường làng.
    Năm 1993, ở tuổi 18, Juan Sebastian Veron tiếp bước người cha tài danh ghi tên vào đội trẻ Estudiantes. Chỉ 1 năm sau - khi còn chưa đón sinh nhật tuổi 19, Veron con được đôn lên đội 1. Nhưng khi đó Estudiantes không còn là đội bóng lớn nữa, thay vào đó là lặn ngụp ở giải hạng Nhì.
    Chỉ cần một năm nữa, Veron đóng vai trò nòng cốt giúp đội bóng trở lại hạng đấu cao nhất. Sứ mệnh hoàn thành, tài năng được khẳng định, Veron chuyển sang khoác áo đội bóng lớn nhất Argentina - Boca Junior, trong sự hỉ hả của giới chóp bu Estudiantes vì đã nhận được một món tiền hời.
    Đến Boca, Veron được sát cánh bên cạnh vị chúa tể của người Argentina - Diego Maradona. Chàng trai 20 tuổi ấy chỉ kịp chơi có 17 trận, ghi 3 bàn thắng trước khi lại tiếp tục cuộc hành trình tưởng như vô tận. Lần này điểm đến của Veron là tận nước Ý ở châu Âu xa xôi. Thì ra, tài năng của Sebastian đã đến tai thượng tầng Sampdoria, còn Boca thì cũng không thể cưỡng lại sức hút của những đồng lia.
    Italia ngày ấy là cái rốn của vũ trụ. Maradona đã chơi bóng ở đây, Vua sư tử Gabriel Batistuta cũng cày ải ở mảnh đất này trong 13 năm. Zanetti, Ayala, Ortega hay Simeone cũng thế. Những tài năng kiệt xuất bậc nhất bóng đá Argentina đều đã tranh tài và ghi dấu ấn ở quốc gia ven Địa Trung Hải. Nó là nguồn động lực để Veron đến và khẳng định rằng trong dòng chảy của các huyền thoại xứ sở Tango, anh là một phần trong đó.
    Sampdoria đóng vai trò trạm trung chuyển, trước khi Parma quyết định chi một khoản tiền mà khi quy đổi sang bảng Anh, nó vào khoảng 15 triệu bảng mùa hè năm 1998. Đội bóng siêu giàu này bị ấn tượng mạnh mẽ bởi màn trình diễn của chàng tiền vệ đậm người và có nét gì đó bặm trợn cô hồn của ĐT Argentina tại World Cup 1998.
    Giải đấu trên đất Pháp, Veron và các đồng đội tiến đến tứ kết, trong đó điểm nhấn là trận thắng Anh tại vòng knock-out đầu tiên, nơi bắt đầu những ân oán giữa Diego Simeone và David Beckham. Bản thân chàng tiền vệ 23 tuổi cũng đóng vai trò chứng nhân lịch sử với quả penalty thành công ở loạt luân lưu thứ ba sau khi Crespo đã đá hỏng, giúp Argentina đi tiếp.
    Nhưng Veron cũng chỉ trú chân ở Parma 1 mùa trước khi đội bóng giàu có và tham vọng hơn - Lazio đã chi ra khoản tiền tương đương 18,1 triệu bảng để mua đứt Veron. Dẫn dắt Lazio khi đó là Sven-Goran Eriksson, người thầy đã đưa Sabastian đến Sampdoria từ Boca.
    Thế nên, nhà cầm quân người Thụy Điển hiểu rõ hơn ai hết giá trị của Seba. Thong thả nhưng có tầm nhìn xuất sắc, kỹ thuật điêu luyện và cũng thừa sự cơ bắp, Juan Veron từng bước khẳng định tài năng, trở thành một trong những tiền vệ xuất sắc nhất ở giải đấu có sự hiện diện của Zidane, Neved hay Rui Costa.
    “Borombombom, tira la bomba, Vero Verón” - kể từ ngày Veron đến Olimpico, những mái vòm luôn ngân vang những khúc hát rộn ràng của NHM Lazio. Không khí lễ hội theo chân Veron ở mọi điểm đến. Bên cạnh anh, những Pavel Neved, Dejan Stankovic, Sergio Conceicao, Matias Almeyda hay ngay cả Diego Simeone đều bị biến thành những con rối xoay quanh người điều khiển Seba.
    Dưới sự cho phép của HLV Eriksson, Veron mặc dù chơi trong vai trò một tiền vệ kiến thiết vùng sâu, nhưng có thể tiếp cận gần với cầu môn đối phương và sẵn sàng tung ra cú nã đại bác không thể cản phá.
    Cuối tháng 3/2000, Juventus dẫn đầu Serie A, nhiều hơn Lazio 9 điểm trong khi giải đấu chỉ còn 8 vòng. Nhưng vào giai đoạn then chốt, Old Lady bất ngờ sa sút không phanh. Zidane, Conte, Inzaghi và Del Piero không thể vực dậy tinh thần cho toàn đội sau những thất bại cay đắng trước AC Milan và chính Lazio.
    Trong ngày Serie A hạ màn, một kịch bản điên rồ bậc nhất lịch sử giải đấu đã xảy ra. Juve hành quân đến sân Perugia - đội bóng khi đó đã gần như chắc chắn trụ hạng. Một chiến thắng sẽ đảm bảo Scudetto thuộc về đội bóng thành Turin, bất chấp nỗ lực bám đuổi của các đối thủ. Nhưng trong một ngày mưa như trút nước, Juve lại… trở thành kẻ chiến bại. 10 phút cuối của trận đấu thậm chí đã bị hoãn lại. Trong thời điểm ấy Lazio đã diệt gọn Reggina 3-0; Veron ghi bàn thứ hai để dập tắt mọi ý đồ phản kháng của đối thủ.
    Đó là 10 phút dài nhất cuộc đời của Veron, Eriksson và người hâm mộ Lazio. Trước khi trận đấu bị gián đoạn, Juve bị dẫn 1 bàn. Nhưng 10 phút ấy có thể thay đổi cục diện của cả giải đấu. Chỉ có điều, đôi chân nặng trĩu vì mưa và vì kết quả của Lazio khiến các học trò Ancelotti đã chẳng thể thay đổi được thế cục. Vòng đấu điên rồ khép lại một mùa giải điên rồ.
    Lazio lên ngôi khi không có một tiền đạo lọt vào top 9 chân sút xuất sắc nhất. Marcelo Salas là tiền đạo số 1 của đội bóng, nhưng thành tích chỉ vỏn vẹn 12 bàn - bằng đúng một nửa Vua phá lưới Andriy Shevchenko của Milan, kém xa Marco Ferrante (18 bàn) của Torino - đội bóng xuống hạng. Nội chỉ chi tiết ấy thôi đủ cho thấy tầm quan trọng của nhạc trưởng Juan Veron to lớn biết nhường nào.
    Mùa giải 1999/2000, Lazio còn ẵm thêm Coppa Italia, nơi vẫn vinh danh cá nhân Seba.1 năm trước, Lazio để tuột mất Scudetto vào tay AC Milan. 1 năm sau, họ giật lấy ngôi vương từ tay Juventus. Sự khác biệt duy nhất mang tên Juan Sebastian Veron.

    TẤN BI KỊCH Ở OLD TRAFFORD

    Phía sau đỉnh cao là vực sâu, triết lý như một lẽ đời ấy không phải ai cũng hiểu. Mùa giải 2000/01 chứng kiến sự sụp đổ của thời đại Sergio Cragnotti tại Lazio. Giữa mùa, Eriksson rời Olimpico sau khi nhận lời dẫn dắt thế hệ vàng của ĐT Anh. Trong khi đó, Juan Veron vướng vào vụ lùm xùm hộ chiếu giả. Và mặc dù sau đó những cáo buộc đã bị gỡ bỏ, Sebastian vẫn chơi bóng trong sự bất an vì có thể một án phạt nặng nề có thể giáng xuống bất cứ lúc nào. Tiền vệ này đã chỉ chơi 22 trận, còn Lazio thất bại trong nỗ lực bảo vệ chức vô địch.
    Trong khi đó, ở nước Anh bờ bên kia eo biển Manche, Man Utd duy trì danh hiệu Premier League thứ ba liên tiếp. Nhưng Quỷ đỏ một lần nữa bị qua mặt ở châu Âu. Bayern Munich của Ottmar Hitzfeld trả thù cho cú sảy chân lịch sử ở trận chung kết Champions League 1999. Hùm xám nước Đức hạ knock-out nhà vô địch nước Anh ở tứ kết trước khi nâng cao Cúp Bạc vào tháng 5 ở trận chung kết tại San Siro. Hàng tiền vệ Man Utd hoàn toàn lép vế trước đối phương trong cả hai trận đi và về thúc đẩy Sir Alex từ bỏ hình thái 4-4-2.
    Cần biết rằng 4-4-2 đã đi theo Fergie trong suốt hàng chục năm của thập niên 1990, là nền tảng thành công của Quỷ đỏ trong chiến tích ăn ba lẫy lừng 1998/99. Vào tháng 4/2000, hàng tiền vệ Man Utd hoàn toàn bị các đồng nghiệp bên phía Real Madrid thống trị trận đấu ngay tại Old Trafford. Sơ đồ 4-3-3 mà Vicente del Bosque mang đến nước Anh giúp khu trung tuyến của đội khách với Redondo, Steve McManaman và Ivan Helguera luôn đông hơn, linh hoạt hơn so với Roy Keane và Scholes.
    Fergie dự định nghỉ hưu vào cuối mùa 2001/02. Và ông muốn vương miện Champions League một lần nữa, và để nâng nó ở quê nhà Glasgow, củng cố vị trí của mình trong lịch sử túc cầu.
    Ruud van Nistelrooy đã đến Old Trafford vào mùa hè năm 2000 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục 18,5 triệu bảng từ PSV. 1 năm sau, Fergie bị mê hoặc bởi Juan Veron. Ông phá két của Man Utd, chi ra 28,1 triệu bảng - kỷ lục chuyển nhượng không chỉ của Man Utd mà còn cả nước Anh thời điểm đó. Man Utd toát lên vẻ đáng sợ với những mảnh ghép sáng lấp lánh.
    Những ngày đầu tiên của Veron ở Old Trafford giống như kịch bản ở Olimpico. Bản hợp đồng đắt giá chẳng cần thời gian để thích nghi, thay vào đó anh tỏa sáng hàng tuần kể từ ngày mới đến. Trong vai trò một tiền vệ, Seba đã ghi được 4 bàn thắng trong 8 trận đầu tiên, đặc biệt là trận thứ hai gặp Blackburn - anh chứng tỏ mình là thiên tài. Nhận bóng khi trước mặt là 3 cầu thủ Blackburn vây lấy, Veron tung ra một đường chọc khe hoàn hảo để loại bỏ tất thảy, đặt Giggs vào thế chẳng thể không ghi bàn. Đó là Veron kinh điển mà tất cả từng biết.
    Chứng kiến màn trình diễn của Veron, Nicky Butt biết rằng “Tôi sẽ không bao giờ chơi cho United một lần nữa”. Vào tháng 9, Seba ẵm giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League. Ở trận thua Bolton trên sân nhà, Veron tung ra một cú đá phạt hàng rào không tưởng.

    Nhưng khởi đầu hoàn hảo hóa ra lại là mũi tên độc quay trở lại làm hại Juan Veron. Quỷ đỏ khi đang bon bon bỗng nhiên trượt dài, chỉ thắng được 1 trong 7 trận tiếp theo, thậm chí trong đó có chuỗi 3 trận thua liên tiếp. Fergie lại tiếp tục xen kẽ giữa 4-5-1 và 4-4-2, còn Veron thì không bao giờ chắc chắn nơi mình sẽ xuất hiện trong tuần tiếp theo. Việc không được chơi ở một vị trí ổn định đã khiến phong độ của tân binh người Argentina sa sút thê thảm.
    Sự khác biệt giữa hai nền bóng đá Italia và Anh trở thành một phần nguyên nhân để lý giải trong sự suy giảm đầu tiên là về thể lực của Veron. Anh từng nói với FourFourTwo thế này: “Tôi đến từ một đất nước mà quá trình đào tạo diễn ra trước khi mùa giải căng thẳng bắt đầu, đến một đất nước mà chính các trận đấu là cách tập luyện cụ thể nhất. Sau tháng 12, tôi đau khổ vì cảm thấy thiếu nền tảng thể lực và nó là bắt nguồn cho những chấn thương”. Sự thực, Veron phải vật lộn với chấn thương gót chân Achilles trong nửa cuối mùa giải 2001/02.
    Tuy nhiên màn trình diễn của Veron tại Champions League - cấp độ bóng đá tương ứng với Serie A về chất lượng, là rất tuyệt vời. Tiến độ chậm hơn tại cúp châu Âu phù hợp với phong cách chơi bóng của Veron và Man Utd dễ dàng vượt qua các vòng đấu, tiếp tục đè bẹp Deportivo ở tứ kết. Phía trước đội bóng nước Anh là Bayer Leverkusen của Lucio, Ze Roberto và Michael Ballack.
    Trận hòa 2-2 ở Old Trafford khiến cho tình thế trở nên khó khăn trước chuyến hành quân đến nước Đức. Tất cả những gì Quỷ đỏ có thể làm được là một trận hòa nữa, nhưng chỉ với tỷ số 1-1. Thất bại bởi luật bàn thắng sân khách là cách bại trận khiến cho Ferguson tổn thương hơn bất cứ điều gì. Ông khao khát chiến thắng trong trận chung kết ở Glasgow, nhưng Man Utd đã không bao giờ kịp chuyến tàu để đi đến đó.
    Sự khác biệt giữa hai nền bóng đá Italia và Anh trở thành một phần nguyên nhân để lý giải trong sự suy giảm đầu tiên là về thể lực của Veron. Anh từng nói với FourFourTwo thế này: “Tôi đến từ một đất nước mà quá trình đào tạo diễn ra trước khi mùa giải căng thẳng bắt đầu, đến một đất nước mà chính các trận đấu là cách tập luyện cụ thể nhất. Sau tháng 12, tôi đau khổ vì cảm thấy thiếu nền tảng thể lực và nó là bắt nguồn cho những chấn thương”. Sự thực, Veron phải vật lộn với chấn thương gót chân Achilles trong nửa cuối mùa giải 2001/02.
    Tuy nhiên màn trình diễn của Veron tại Champions League - cấp độ bóng đá tương ứng với Serie A về chất lượng, là rất tuyệt vời. Tiến độ chậm hơn tại cúp châu Âu phù hợp với phong cách chơi bóng của Veron và Man Utd dễ dàng vượt qua các vòng đấu, tiếp tục đè bẹp Deportivo ở tứ kết. Phía trước đội bóng nước Anh là Bayer Leverkusen của Lucio, Ze Roberto và Michael Ballack.
    Trận hòa 2-2 ở Old Trafford khiến cho tình thế trở nên khó khăn trước chuyến hành quân đến nước Đức. Tất cả những gì Quỷ đỏ có thể làm được là một trận hòa nữa, nhưng chỉ với tỷ số 1-1. Thất bại bởi luật bàn thắng sân khách là cách bại trận khiến cho Ferguson tổn thương hơn bất cứ điều gì. Ông khao khát chiến thắng trong trận chung kết ở Glasgow, nhưng Man Utd đã không bao giờ kịp chuyến tàu để đi đến đó.
    Ở giải quốc nội, Man Utd cũng chỉ kết thúc ở vị trí thứ ba - thành tích tồi tệ nhất trong vòng 11 năm và nó là cái gì đó không thể quen nổi ở mảnh đất này. Ở Lazio, khi kiếm tìm sự khác biệt giữa thất bại 1998/99 với vinh quang 1999/2000, Veron là tâm điểm và ở Man Utd cũng vậy, chỉ có điều nó ở thái cực hoàn toàn ngược lại. Roy Keane - người cạnh tranh vai trò trực tiếp với Veron, đã mắng Veron một trận nên thân sau thất bại trước Middlesbrough. Và Ferguson cũng thế.
    Mùa 2002/03 - năm thứ hai của Veron ở Anh bắt đầu bằng sự cải tiến đáng kể. Anh tiếp tục hiển thị những phẩm chất kiệt xuất nhất tại đấu trường của những ngôi sao - Champions League, ghi 4 bàn trong vòng bảng đầu tiên. Những trận đấu ở Premier League cũng trở nên dễ thở hơn khi Keane chấn thương.
    Nguồn cảm hứng đưa Veron trở lại trông giống như một nhà soạn nhạc thiên tài như đã từng ở Parma và Lazio. Một trong số đó là chiến thắng 2-0 nổi tiếng trước nhà vô địch Arsenal. Butt, Keane, Beckham - tất cả đều đứng ngoài cuộc chiến vì các lý do khác nhau. Chỉ có Phil Neville làm đối tác nhưng như vậy cũng là quá đủ, bởi anh chàng đến từ Plata đã làm việc thay phần đồng nghiệp.
    Trong tận cùng đen đủi, chấn thương tái phát sau trận gặp Leeds khiến Veron vắng mặt trong hầu hết các trận của giai đoạn cuối. Khi trở lại, anh ngay lập tức chơi một trận sống còn với Real Madrid ở lượt về tứ kết Champions League và dễ hiểu khi không để lại bất cứ dấu ấn nào. Ngay cả khi Man Utd vô địch Premier League đầy thuyết phục với 8 điểm nhiều hơn Arsenal, đó vẫn không phải màn trình diễn tốt nhất của Juan Sebastian Veron.
    Từ đầu đến cuối, Sir Alex luôn nhất quán trong việc bảo vệ tuyệt đối Seba trong sự soi mói của truyền thông Anh. Ông già gân từng hét vào mặt đám phóng viên thể thao trong phòng họp báo rằng “Cậu ta là một tài năng tuyệt vời, còn các người đều là một lũ ngốc quỷ quái”. Tuy nhiên, cái cách mà Fergie đã áp đặt đối với bản hợp đồng đắt giá này lại không giống như vậy.
    Fergie đã quá đơn giản khi nghĩ rằng, cứ nhét Veron vào một sơ đồ rồi để anh tự thích nghi với điều đó. Man Utd sau nhiều năm quen với bộ tứ tiền vệ Becks, Keane, Scholes và Giggs; dường như không sẵn sàng để tiếp nhận một gã lạ mặt vừa mới đến nhưng lại muốn làm ông chủ. Dưới áp lực của Scholes, người tuyên bố anh ghét chơi như một số 10, Seba đã không có đủ khoảng không gian cần thiết.
    Ở Lazio, Veron được tự do di chuyển bởi phía sau anh là Simeone hoặc Almeyda bọc lót, cùng hệ thống phòng ngự có sự hiện diện của Alessandro Nesta. Điều đó không có ở United mùa 2001/02. Sau lưng Seba là một hệ thống hỗn loạn. Việc bán Jap Stam để lại lỗ hổng mà Laurent Blanc ở tuổi 36 không thể lấp đầy.
    Thêm nữa, khi Roy Kean còn hiện diện thì ắt hẳn sẽ chẳng có cơ may nào cho Veron sắm vai ông chủ khu trung tuyến. Không phải ngẫu nhiên giai đoạn Seba chơi thăng hoa nhất lại là khi Keano vùi mình trong bệnh xá. Sau này, Keano thừa nhận: “Tôi đã luôn khắt khe với Seba và điều đó thật sai lầm. Khi cậu ta đến, tôi mong đợi những phép lạ, và khi điều đó không xảy ra thì tôi đã luôn chĩa mũi dùi vào cậu ấy”.
    Sau 2 năm, mối lương duyên đầy bi kịch giữa Man Utd và Juan Sebastian Veron đổ vỡ. Seba gia nhập đội bóng mới nổi Chelsea mùa hè năm 2003, đóng vai trò át chủ bài trong ván bài mới của Claudio Ranieri. Khốn khổ thay, Veron rời một chỗ tối để đến với nơi thậm chí không tồn tại ánh sáng.
    4 năm thuộc biên chế The Blues, Seba chỉ ra sân trong màu áo Chelsea vỏn vẹn 7 trận và ghi chỉ 1 bàn thắng. 15 triệu bảng cho 1 bàn thắng, lịch sử bóng đá có lẽ chưa từng chứng kiến bao giờ. Chuyến hành hương về “đất thánh” Italia năm 2004 chỉ giúp Veron sống lại cảm hứng chơi bóng, còn tài năng và ánh hào quang xưa cũ đã mãi mãi chôn vùi ở tuổi 26 cùng các đội bóng nước Anh. Cả 2 thương vụ gia nhập Man Utd và Chelsea của Juan Veron đều bị tạp chí The Times đánh giá lọt top 50 thương vụ tồi tệ nhất lịch sử Premier League.
    Ở Man Utd, ở Chelsea người ta coi Juan Veron là một kẻ thất bại, nhưng ngay cả ở quê nhà Argentina, Seba cũng chơi bóng trong sự ghẻ lạnh của đám đông. Cùng với Juan Roman Riquelme, Veron thuộc về những tuyển thủ tài năng nhất mà bóng đá Argentina sản sinh trong thế hệ của mình. Nhưng họ hầu như chưa bao giờ được NHM ghi nhận đúng với giá trị.

    Với trường hợp của Veron, anh thậm chí phải nhận những tiếng la ó từ chính CĐV đội nhà. Từ “La Brujita” (Phù thủy nhỏ), người ta bỗng chốc ném vào anh những từ ngữ độc địa như “Traidor” (Kẻ phản bội), “Pecho frio” (Cái thòng lọng) - tồi tệ hơn hết là “Ingles” - Gã người Anh.
    giải đấu trên đất Nhật Bản và Hàn Quốc, Veron mang trong mình sứ mệnh dẫn dắt Argentina đi đến vinh quang sau cuối - thứ vinh quang đã rời bỏ xứ sở này kể từ ngày đấng cứu thế Diego Maradona mất đi phép thuật.
    Kỳ vọng bao nhiêu thì nỗi thất vọng mà NHM Albiceleste nhận lại lớn lao bấy nhiêu. Argentina bị loại ngay sau vòng bảng chỉ với 4 điểm, xếp liền sau Thụy Điển và Anh. Thất bại trước kẻ thù tuyển Anh đẩy Veron đến bên bờ vực, trở thành đứa con ghẻ bị cả dân tộc căm ghét. Họ cho rằng Seba - bằng cách nào đó đã cúi đầu quỳ lạy chủ nhân mới của mình - Man Utd và các đồng đội tại đây.
    Ai cũng có một nơi để trở về, cho dù chuyến vượt biển này nhuốm màu bi kịch, thì sau cùng Estudiantes nơi cha anh đã chơi một trận xuất sắc trong ngày chào đời vẫn giang rộng vòng tay chào đón Juan Veron. Năm 2006, Sebastian quyết định hồi hương. Hai ông lớn River Plate và Boca Juniors chờ đợi, nhưng Estudiantes mới là điểm đến. Trong những chuyến phiêu lưu ở châu Âu, anh chưa bao giờ quên nơi này. Veron vẫn thường xuyên quyên góp giúp đỡ đội bóng mua trang thiết bị tập luyện, cải thiện khu vực y tế…
    Tốc độ chậm hơn, thiên về kỹ thuật của bóng đá Nam Mỹ kích thích các tố chất của Phù thủy nhỏ. Anh ngay lập tức sống lại nguồn cảm hứng thuở hồng hoang, trở thành người dẫn đường của đội bóng đến với những thành công ngoài mong đợi. Trong trận Clasico La Plata đầu tiên mà Veron được chơi, Estudiantes nghiền nát Gimnasia 7-0.
    Trong mùa giải đầu tiên của Veron ngày trở về, Estudiantes vô địch Apertura, thêm một lần nữa vào năm 2010. Đặc biệt, chức vô địch cấp CLB Nam Mỹ - Copa Libertadores đã hồi sinh một phần tâm hồn anh. Anh nói với tờ Ole vào đêm trước trận chung kết: “Tôi sẽ đánh đổi tất cả thành tích của tôi, tất cả mọi chiến thắng của tôi ở châu Âu, tất cả mọi thứ tôi đã giành được cho đến hôm nay, chỉ cho chiến thắng này”.
    Ngày cuối cùng của năm 2016 vừa qua, Veron gây bất ngờ cho tất cả với tuyên bố trở lại chơi bóng ở tuổi 41. Một lần nữa, anh ký hợp đồng với Estudiantes, như để sống lại cảm giác của chàng trai 18 tuổi năm nào ký hợp đồng chuyên nghiệp với CLB vậy. Nói vậy thôi, giờ phút này Veron đâu còn sân si thành tích nữa, anh thích đá bóng nhưng chỉ còn hợp với các trận du đấu của các ngôi sao đang… dối già. Seba chưa có trận đấu chính thức nào trong lần trở lại này, và có lẽ sẽ không có.
    Như ánh sao băng cắt ngang dải thiên hà, Juan Sebastian Veron không chỉ là một cái tên mà còn là sự định nghĩa cho những gì xuất chúng nhất nhưng cũng yểu mệnh nhất. Phù thủy nhỏ - như chính biệt danh của anh, sử dụng phép thuật ma mị của đôi chân và khối óc để tạo nên những điểm nhấn chấm phá trong thời đại hoàng kim của Serie A. Để rồi hàng chục năm sau, những người hoài cổ và yêu cái đẹp vẫn chép miệng mà rằng: Phải chi Veron đừng sang Man Utd, thì cái đầu trọc ấy sẽ còn huy hoàng biết mấy!




    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    Phải chi Veron đừng sang Man Utd

    DAVID NGUYEN  |  at  5:36:00 AM

    Như ánh sao băng cắt ngang dải thiên hà, Juan Sebastian Veron không chỉ là một cái tên mà còn là sự định nghĩa cho những gì xuất chúng nhất nhưng cũng mỏng manh nhất. “Phù thủy nhỏ” - biệt danh của anh, sử dụng phép thuật ma mị của đôi chân và khối óc để tạo nên những điểm nhấn chấm phá trong thời đại hoàng kim của Serie A. Để rồi hàng chục năm sau, những người hoài cổ và yêu cái đẹp vẫn chép miệng mà rằng: Phải chi Veron đừng sang Man Utd!

    Một ngày tháng 3 năm 1975. Plata - thành phố thủ phủ của Buenos Aires, bị chia nửa bởi trận Clasico 87 giữa Estudiantes và Gimnasia. Juan Ramon Veron khi đó là ngôi sao sáng giá nhất của Estudiantes. Không phụ lòng mong mỏi của người hâm mộ, La Bruja (Phù thủy) chơi một trận xuất sắc với vai trò là niềm cảm hứng cùng 1 bàn thắng, mang về chiến thắng 4-1 cho đội nhà.
    Juan Ramon không hề biết rằng ở thời điểm trận đấu đang diễn ra thì ở bệnh viện, vợ ông vừa hạ sinh một bé trai kháu khỉnh. HLV Carlos Bilardo đã quyết định giữ kín thông tin để không làm phân tán tư tưởng của Ramon. Đó là một ngày trọng đại của CLB, không vì trận siêu derby của thành phố - mà còn vì kết quả nó tác động đến tương lai hai đội bóng.
    Nhưng tất cả đều không ngờ được rằng, đứa trẻ ra đời trong khoảnh khắc ấy sau này sẽ tạo nên một trường sóng gió, tranh cãi và cả những bi kịch cho thế giới bóng đá, vượt xa mọi tầm ảnh hưởng mà trận derby Plata có thể phổ cập. Để kỷ niệm chiến thắng đáng nhớ ngày 9/3/1975, ông Ramon quyết định đặt tên cho đứa con trai bé bỏng là Sebastian - Juan Sebastian Veron.
    Thằng bé thừa hưởng mọi gen trội từ người cha tài năng. Sebastian càng lớn càng bộc lộ tư chất của một thiên tài, và hơn ai hết ông Ramon hiểu rõ điều đó. Không phải bàn thắng vào lưới Gimnasia, Sebastian mới là bàn thắng cuộc đời ông. Nhưng thằng bé cũng giống mẹ ở điểm cao lớn. Và vì thế, nó không thể chơi ở vị trí cầu thủ chạy cánh như cha mình. Đổi lại, tư chất thông minh và đôi chân kỹ thuật giúp Sebastian luôn trở thành ông chủ của đội bóng trường làng.
    Năm 1993, ở tuổi 18, Juan Sebastian Veron tiếp bước người cha tài danh ghi tên vào đội trẻ Estudiantes. Chỉ 1 năm sau - khi còn chưa đón sinh nhật tuổi 19, Veron con được đôn lên đội 1. Nhưng khi đó Estudiantes không còn là đội bóng lớn nữa, thay vào đó là lặn ngụp ở giải hạng Nhì.
    Chỉ cần một năm nữa, Veron đóng vai trò nòng cốt giúp đội bóng trở lại hạng đấu cao nhất. Sứ mệnh hoàn thành, tài năng được khẳng định, Veron chuyển sang khoác áo đội bóng lớn nhất Argentina - Boca Junior, trong sự hỉ hả của giới chóp bu Estudiantes vì đã nhận được một món tiền hời.
    Đến Boca, Veron được sát cánh bên cạnh vị chúa tể của người Argentina - Diego Maradona. Chàng trai 20 tuổi ấy chỉ kịp chơi có 17 trận, ghi 3 bàn thắng trước khi lại tiếp tục cuộc hành trình tưởng như vô tận. Lần này điểm đến của Veron là tận nước Ý ở châu Âu xa xôi. Thì ra, tài năng của Sebastian đã đến tai thượng tầng Sampdoria, còn Boca thì cũng không thể cưỡng lại sức hút của những đồng lia.
    Italia ngày ấy là cái rốn của vũ trụ. Maradona đã chơi bóng ở đây, Vua sư tử Gabriel Batistuta cũng cày ải ở mảnh đất này trong 13 năm. Zanetti, Ayala, Ortega hay Simeone cũng thế. Những tài năng kiệt xuất bậc nhất bóng đá Argentina đều đã tranh tài và ghi dấu ấn ở quốc gia ven Địa Trung Hải. Nó là nguồn động lực để Veron đến và khẳng định rằng trong dòng chảy của các huyền thoại xứ sở Tango, anh là một phần trong đó.
    Sampdoria đóng vai trò trạm trung chuyển, trước khi Parma quyết định chi một khoản tiền mà khi quy đổi sang bảng Anh, nó vào khoảng 15 triệu bảng mùa hè năm 1998. Đội bóng siêu giàu này bị ấn tượng mạnh mẽ bởi màn trình diễn của chàng tiền vệ đậm người và có nét gì đó bặm trợn cô hồn của ĐT Argentina tại World Cup 1998.
    Giải đấu trên đất Pháp, Veron và các đồng đội tiến đến tứ kết, trong đó điểm nhấn là trận thắng Anh tại vòng knock-out đầu tiên, nơi bắt đầu những ân oán giữa Diego Simeone và David Beckham. Bản thân chàng tiền vệ 23 tuổi cũng đóng vai trò chứng nhân lịch sử với quả penalty thành công ở loạt luân lưu thứ ba sau khi Crespo đã đá hỏng, giúp Argentina đi tiếp.
    Nhưng Veron cũng chỉ trú chân ở Parma 1 mùa trước khi đội bóng giàu có và tham vọng hơn - Lazio đã chi ra khoản tiền tương đương 18,1 triệu bảng để mua đứt Veron. Dẫn dắt Lazio khi đó là Sven-Goran Eriksson, người thầy đã đưa Sabastian đến Sampdoria từ Boca.
    Thế nên, nhà cầm quân người Thụy Điển hiểu rõ hơn ai hết giá trị của Seba. Thong thả nhưng có tầm nhìn xuất sắc, kỹ thuật điêu luyện và cũng thừa sự cơ bắp, Juan Veron từng bước khẳng định tài năng, trở thành một trong những tiền vệ xuất sắc nhất ở giải đấu có sự hiện diện của Zidane, Neved hay Rui Costa.
    “Borombombom, tira la bomba, Vero Verón” - kể từ ngày Veron đến Olimpico, những mái vòm luôn ngân vang những khúc hát rộn ràng của NHM Lazio. Không khí lễ hội theo chân Veron ở mọi điểm đến. Bên cạnh anh, những Pavel Neved, Dejan Stankovic, Sergio Conceicao, Matias Almeyda hay ngay cả Diego Simeone đều bị biến thành những con rối xoay quanh người điều khiển Seba.
    Dưới sự cho phép của HLV Eriksson, Veron mặc dù chơi trong vai trò một tiền vệ kiến thiết vùng sâu, nhưng có thể tiếp cận gần với cầu môn đối phương và sẵn sàng tung ra cú nã đại bác không thể cản phá.
    Cuối tháng 3/2000, Juventus dẫn đầu Serie A, nhiều hơn Lazio 9 điểm trong khi giải đấu chỉ còn 8 vòng. Nhưng vào giai đoạn then chốt, Old Lady bất ngờ sa sút không phanh. Zidane, Conte, Inzaghi và Del Piero không thể vực dậy tinh thần cho toàn đội sau những thất bại cay đắng trước AC Milan và chính Lazio.
    Trong ngày Serie A hạ màn, một kịch bản điên rồ bậc nhất lịch sử giải đấu đã xảy ra. Juve hành quân đến sân Perugia - đội bóng khi đó đã gần như chắc chắn trụ hạng. Một chiến thắng sẽ đảm bảo Scudetto thuộc về đội bóng thành Turin, bất chấp nỗ lực bám đuổi của các đối thủ. Nhưng trong một ngày mưa như trút nước, Juve lại… trở thành kẻ chiến bại. 10 phút cuối của trận đấu thậm chí đã bị hoãn lại. Trong thời điểm ấy Lazio đã diệt gọn Reggina 3-0; Veron ghi bàn thứ hai để dập tắt mọi ý đồ phản kháng của đối thủ.
    Đó là 10 phút dài nhất cuộc đời của Veron, Eriksson và người hâm mộ Lazio. Trước khi trận đấu bị gián đoạn, Juve bị dẫn 1 bàn. Nhưng 10 phút ấy có thể thay đổi cục diện của cả giải đấu. Chỉ có điều, đôi chân nặng trĩu vì mưa và vì kết quả của Lazio khiến các học trò Ancelotti đã chẳng thể thay đổi được thế cục. Vòng đấu điên rồ khép lại một mùa giải điên rồ.
    Lazio lên ngôi khi không có một tiền đạo lọt vào top 9 chân sút xuất sắc nhất. Marcelo Salas là tiền đạo số 1 của đội bóng, nhưng thành tích chỉ vỏn vẹn 12 bàn - bằng đúng một nửa Vua phá lưới Andriy Shevchenko của Milan, kém xa Marco Ferrante (18 bàn) của Torino - đội bóng xuống hạng. Nội chỉ chi tiết ấy thôi đủ cho thấy tầm quan trọng của nhạc trưởng Juan Veron to lớn biết nhường nào.
    Mùa giải 1999/2000, Lazio còn ẵm thêm Coppa Italia, nơi vẫn vinh danh cá nhân Seba.1 năm trước, Lazio để tuột mất Scudetto vào tay AC Milan. 1 năm sau, họ giật lấy ngôi vương từ tay Juventus. Sự khác biệt duy nhất mang tên Juan Sebastian Veron.

    TẤN BI KỊCH Ở OLD TRAFFORD

    Phía sau đỉnh cao là vực sâu, triết lý như một lẽ đời ấy không phải ai cũng hiểu. Mùa giải 2000/01 chứng kiến sự sụp đổ của thời đại Sergio Cragnotti tại Lazio. Giữa mùa, Eriksson rời Olimpico sau khi nhận lời dẫn dắt thế hệ vàng của ĐT Anh. Trong khi đó, Juan Veron vướng vào vụ lùm xùm hộ chiếu giả. Và mặc dù sau đó những cáo buộc đã bị gỡ bỏ, Sebastian vẫn chơi bóng trong sự bất an vì có thể một án phạt nặng nề có thể giáng xuống bất cứ lúc nào. Tiền vệ này đã chỉ chơi 22 trận, còn Lazio thất bại trong nỗ lực bảo vệ chức vô địch.
    Trong khi đó, ở nước Anh bờ bên kia eo biển Manche, Man Utd duy trì danh hiệu Premier League thứ ba liên tiếp. Nhưng Quỷ đỏ một lần nữa bị qua mặt ở châu Âu. Bayern Munich của Ottmar Hitzfeld trả thù cho cú sảy chân lịch sử ở trận chung kết Champions League 1999. Hùm xám nước Đức hạ knock-out nhà vô địch nước Anh ở tứ kết trước khi nâng cao Cúp Bạc vào tháng 5 ở trận chung kết tại San Siro. Hàng tiền vệ Man Utd hoàn toàn lép vế trước đối phương trong cả hai trận đi và về thúc đẩy Sir Alex từ bỏ hình thái 4-4-2.
    Cần biết rằng 4-4-2 đã đi theo Fergie trong suốt hàng chục năm của thập niên 1990, là nền tảng thành công của Quỷ đỏ trong chiến tích ăn ba lẫy lừng 1998/99. Vào tháng 4/2000, hàng tiền vệ Man Utd hoàn toàn bị các đồng nghiệp bên phía Real Madrid thống trị trận đấu ngay tại Old Trafford. Sơ đồ 4-3-3 mà Vicente del Bosque mang đến nước Anh giúp khu trung tuyến của đội khách với Redondo, Steve McManaman và Ivan Helguera luôn đông hơn, linh hoạt hơn so với Roy Keane và Scholes.
    Fergie dự định nghỉ hưu vào cuối mùa 2001/02. Và ông muốn vương miện Champions League một lần nữa, và để nâng nó ở quê nhà Glasgow, củng cố vị trí của mình trong lịch sử túc cầu.
    Ruud van Nistelrooy đã đến Old Trafford vào mùa hè năm 2000 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục 18,5 triệu bảng từ PSV. 1 năm sau, Fergie bị mê hoặc bởi Juan Veron. Ông phá két của Man Utd, chi ra 28,1 triệu bảng - kỷ lục chuyển nhượng không chỉ của Man Utd mà còn cả nước Anh thời điểm đó. Man Utd toát lên vẻ đáng sợ với những mảnh ghép sáng lấp lánh.
    Những ngày đầu tiên của Veron ở Old Trafford giống như kịch bản ở Olimpico. Bản hợp đồng đắt giá chẳng cần thời gian để thích nghi, thay vào đó anh tỏa sáng hàng tuần kể từ ngày mới đến. Trong vai trò một tiền vệ, Seba đã ghi được 4 bàn thắng trong 8 trận đầu tiên, đặc biệt là trận thứ hai gặp Blackburn - anh chứng tỏ mình là thiên tài. Nhận bóng khi trước mặt là 3 cầu thủ Blackburn vây lấy, Veron tung ra một đường chọc khe hoàn hảo để loại bỏ tất thảy, đặt Giggs vào thế chẳng thể không ghi bàn. Đó là Veron kinh điển mà tất cả từng biết.
    Chứng kiến màn trình diễn của Veron, Nicky Butt biết rằng “Tôi sẽ không bao giờ chơi cho United một lần nữa”. Vào tháng 9, Seba ẵm giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League. Ở trận thua Bolton trên sân nhà, Veron tung ra một cú đá phạt hàng rào không tưởng.

    Nhưng khởi đầu hoàn hảo hóa ra lại là mũi tên độc quay trở lại làm hại Juan Veron. Quỷ đỏ khi đang bon bon bỗng nhiên trượt dài, chỉ thắng được 1 trong 7 trận tiếp theo, thậm chí trong đó có chuỗi 3 trận thua liên tiếp. Fergie lại tiếp tục xen kẽ giữa 4-5-1 và 4-4-2, còn Veron thì không bao giờ chắc chắn nơi mình sẽ xuất hiện trong tuần tiếp theo. Việc không được chơi ở một vị trí ổn định đã khiến phong độ của tân binh người Argentina sa sút thê thảm.
    Sự khác biệt giữa hai nền bóng đá Italia và Anh trở thành một phần nguyên nhân để lý giải trong sự suy giảm đầu tiên là về thể lực của Veron. Anh từng nói với FourFourTwo thế này: “Tôi đến từ một đất nước mà quá trình đào tạo diễn ra trước khi mùa giải căng thẳng bắt đầu, đến một đất nước mà chính các trận đấu là cách tập luyện cụ thể nhất. Sau tháng 12, tôi đau khổ vì cảm thấy thiếu nền tảng thể lực và nó là bắt nguồn cho những chấn thương”. Sự thực, Veron phải vật lộn với chấn thương gót chân Achilles trong nửa cuối mùa giải 2001/02.
    Tuy nhiên màn trình diễn của Veron tại Champions League - cấp độ bóng đá tương ứng với Serie A về chất lượng, là rất tuyệt vời. Tiến độ chậm hơn tại cúp châu Âu phù hợp với phong cách chơi bóng của Veron và Man Utd dễ dàng vượt qua các vòng đấu, tiếp tục đè bẹp Deportivo ở tứ kết. Phía trước đội bóng nước Anh là Bayer Leverkusen của Lucio, Ze Roberto và Michael Ballack.
    Trận hòa 2-2 ở Old Trafford khiến cho tình thế trở nên khó khăn trước chuyến hành quân đến nước Đức. Tất cả những gì Quỷ đỏ có thể làm được là một trận hòa nữa, nhưng chỉ với tỷ số 1-1. Thất bại bởi luật bàn thắng sân khách là cách bại trận khiến cho Ferguson tổn thương hơn bất cứ điều gì. Ông khao khát chiến thắng trong trận chung kết ở Glasgow, nhưng Man Utd đã không bao giờ kịp chuyến tàu để đi đến đó.
    Sự khác biệt giữa hai nền bóng đá Italia và Anh trở thành một phần nguyên nhân để lý giải trong sự suy giảm đầu tiên là về thể lực của Veron. Anh từng nói với FourFourTwo thế này: “Tôi đến từ một đất nước mà quá trình đào tạo diễn ra trước khi mùa giải căng thẳng bắt đầu, đến một đất nước mà chính các trận đấu là cách tập luyện cụ thể nhất. Sau tháng 12, tôi đau khổ vì cảm thấy thiếu nền tảng thể lực và nó là bắt nguồn cho những chấn thương”. Sự thực, Veron phải vật lộn với chấn thương gót chân Achilles trong nửa cuối mùa giải 2001/02.
    Tuy nhiên màn trình diễn của Veron tại Champions League - cấp độ bóng đá tương ứng với Serie A về chất lượng, là rất tuyệt vời. Tiến độ chậm hơn tại cúp châu Âu phù hợp với phong cách chơi bóng của Veron và Man Utd dễ dàng vượt qua các vòng đấu, tiếp tục đè bẹp Deportivo ở tứ kết. Phía trước đội bóng nước Anh là Bayer Leverkusen của Lucio, Ze Roberto và Michael Ballack.
    Trận hòa 2-2 ở Old Trafford khiến cho tình thế trở nên khó khăn trước chuyến hành quân đến nước Đức. Tất cả những gì Quỷ đỏ có thể làm được là một trận hòa nữa, nhưng chỉ với tỷ số 1-1. Thất bại bởi luật bàn thắng sân khách là cách bại trận khiến cho Ferguson tổn thương hơn bất cứ điều gì. Ông khao khát chiến thắng trong trận chung kết ở Glasgow, nhưng Man Utd đã không bao giờ kịp chuyến tàu để đi đến đó.
    Ở giải quốc nội, Man Utd cũng chỉ kết thúc ở vị trí thứ ba - thành tích tồi tệ nhất trong vòng 11 năm và nó là cái gì đó không thể quen nổi ở mảnh đất này. Ở Lazio, khi kiếm tìm sự khác biệt giữa thất bại 1998/99 với vinh quang 1999/2000, Veron là tâm điểm và ở Man Utd cũng vậy, chỉ có điều nó ở thái cực hoàn toàn ngược lại. Roy Keane - người cạnh tranh vai trò trực tiếp với Veron, đã mắng Veron một trận nên thân sau thất bại trước Middlesbrough. Và Ferguson cũng thế.
    Mùa 2002/03 - năm thứ hai của Veron ở Anh bắt đầu bằng sự cải tiến đáng kể. Anh tiếp tục hiển thị những phẩm chất kiệt xuất nhất tại đấu trường của những ngôi sao - Champions League, ghi 4 bàn trong vòng bảng đầu tiên. Những trận đấu ở Premier League cũng trở nên dễ thở hơn khi Keane chấn thương.
    Nguồn cảm hứng đưa Veron trở lại trông giống như một nhà soạn nhạc thiên tài như đã từng ở Parma và Lazio. Một trong số đó là chiến thắng 2-0 nổi tiếng trước nhà vô địch Arsenal. Butt, Keane, Beckham - tất cả đều đứng ngoài cuộc chiến vì các lý do khác nhau. Chỉ có Phil Neville làm đối tác nhưng như vậy cũng là quá đủ, bởi anh chàng đến từ Plata đã làm việc thay phần đồng nghiệp.
    Trong tận cùng đen đủi, chấn thương tái phát sau trận gặp Leeds khiến Veron vắng mặt trong hầu hết các trận của giai đoạn cuối. Khi trở lại, anh ngay lập tức chơi một trận sống còn với Real Madrid ở lượt về tứ kết Champions League và dễ hiểu khi không để lại bất cứ dấu ấn nào. Ngay cả khi Man Utd vô địch Premier League đầy thuyết phục với 8 điểm nhiều hơn Arsenal, đó vẫn không phải màn trình diễn tốt nhất của Juan Sebastian Veron.
    Từ đầu đến cuối, Sir Alex luôn nhất quán trong việc bảo vệ tuyệt đối Seba trong sự soi mói của truyền thông Anh. Ông già gân từng hét vào mặt đám phóng viên thể thao trong phòng họp báo rằng “Cậu ta là một tài năng tuyệt vời, còn các người đều là một lũ ngốc quỷ quái”. Tuy nhiên, cái cách mà Fergie đã áp đặt đối với bản hợp đồng đắt giá này lại không giống như vậy.
    Fergie đã quá đơn giản khi nghĩ rằng, cứ nhét Veron vào một sơ đồ rồi để anh tự thích nghi với điều đó. Man Utd sau nhiều năm quen với bộ tứ tiền vệ Becks, Keane, Scholes và Giggs; dường như không sẵn sàng để tiếp nhận một gã lạ mặt vừa mới đến nhưng lại muốn làm ông chủ. Dưới áp lực của Scholes, người tuyên bố anh ghét chơi như một số 10, Seba đã không có đủ khoảng không gian cần thiết.
    Ở Lazio, Veron được tự do di chuyển bởi phía sau anh là Simeone hoặc Almeyda bọc lót, cùng hệ thống phòng ngự có sự hiện diện của Alessandro Nesta. Điều đó không có ở United mùa 2001/02. Sau lưng Seba là một hệ thống hỗn loạn. Việc bán Jap Stam để lại lỗ hổng mà Laurent Blanc ở tuổi 36 không thể lấp đầy.
    Thêm nữa, khi Roy Kean còn hiện diện thì ắt hẳn sẽ chẳng có cơ may nào cho Veron sắm vai ông chủ khu trung tuyến. Không phải ngẫu nhiên giai đoạn Seba chơi thăng hoa nhất lại là khi Keano vùi mình trong bệnh xá. Sau này, Keano thừa nhận: “Tôi đã luôn khắt khe với Seba và điều đó thật sai lầm. Khi cậu ta đến, tôi mong đợi những phép lạ, và khi điều đó không xảy ra thì tôi đã luôn chĩa mũi dùi vào cậu ấy”.
    Sau 2 năm, mối lương duyên đầy bi kịch giữa Man Utd và Juan Sebastian Veron đổ vỡ. Seba gia nhập đội bóng mới nổi Chelsea mùa hè năm 2003, đóng vai trò át chủ bài trong ván bài mới của Claudio Ranieri. Khốn khổ thay, Veron rời một chỗ tối để đến với nơi thậm chí không tồn tại ánh sáng.
    4 năm thuộc biên chế The Blues, Seba chỉ ra sân trong màu áo Chelsea vỏn vẹn 7 trận và ghi chỉ 1 bàn thắng. 15 triệu bảng cho 1 bàn thắng, lịch sử bóng đá có lẽ chưa từng chứng kiến bao giờ. Chuyến hành hương về “đất thánh” Italia năm 2004 chỉ giúp Veron sống lại cảm hứng chơi bóng, còn tài năng và ánh hào quang xưa cũ đã mãi mãi chôn vùi ở tuổi 26 cùng các đội bóng nước Anh. Cả 2 thương vụ gia nhập Man Utd và Chelsea của Juan Veron đều bị tạp chí The Times đánh giá lọt top 50 thương vụ tồi tệ nhất lịch sử Premier League.
    Ở Man Utd, ở Chelsea người ta coi Juan Veron là một kẻ thất bại, nhưng ngay cả ở quê nhà Argentina, Seba cũng chơi bóng trong sự ghẻ lạnh của đám đông. Cùng với Juan Roman Riquelme, Veron thuộc về những tuyển thủ tài năng nhất mà bóng đá Argentina sản sinh trong thế hệ của mình. Nhưng họ hầu như chưa bao giờ được NHM ghi nhận đúng với giá trị.

    Với trường hợp của Veron, anh thậm chí phải nhận những tiếng la ó từ chính CĐV đội nhà. Từ “La Brujita” (Phù thủy nhỏ), người ta bỗng chốc ném vào anh những từ ngữ độc địa như “Traidor” (Kẻ phản bội), “Pecho frio” (Cái thòng lọng) - tồi tệ hơn hết là “Ingles” - Gã người Anh.
    giải đấu trên đất Nhật Bản và Hàn Quốc, Veron mang trong mình sứ mệnh dẫn dắt Argentina đi đến vinh quang sau cuối - thứ vinh quang đã rời bỏ xứ sở này kể từ ngày đấng cứu thế Diego Maradona mất đi phép thuật.
    Kỳ vọng bao nhiêu thì nỗi thất vọng mà NHM Albiceleste nhận lại lớn lao bấy nhiêu. Argentina bị loại ngay sau vòng bảng chỉ với 4 điểm, xếp liền sau Thụy Điển và Anh. Thất bại trước kẻ thù tuyển Anh đẩy Veron đến bên bờ vực, trở thành đứa con ghẻ bị cả dân tộc căm ghét. Họ cho rằng Seba - bằng cách nào đó đã cúi đầu quỳ lạy chủ nhân mới của mình - Man Utd và các đồng đội tại đây.
    Ai cũng có một nơi để trở về, cho dù chuyến vượt biển này nhuốm màu bi kịch, thì sau cùng Estudiantes nơi cha anh đã chơi một trận xuất sắc trong ngày chào đời vẫn giang rộng vòng tay chào đón Juan Veron. Năm 2006, Sebastian quyết định hồi hương. Hai ông lớn River Plate và Boca Juniors chờ đợi, nhưng Estudiantes mới là điểm đến. Trong những chuyến phiêu lưu ở châu Âu, anh chưa bao giờ quên nơi này. Veron vẫn thường xuyên quyên góp giúp đỡ đội bóng mua trang thiết bị tập luyện, cải thiện khu vực y tế…
    Tốc độ chậm hơn, thiên về kỹ thuật của bóng đá Nam Mỹ kích thích các tố chất của Phù thủy nhỏ. Anh ngay lập tức sống lại nguồn cảm hứng thuở hồng hoang, trở thành người dẫn đường của đội bóng đến với những thành công ngoài mong đợi. Trong trận Clasico La Plata đầu tiên mà Veron được chơi, Estudiantes nghiền nát Gimnasia 7-0.
    Trong mùa giải đầu tiên của Veron ngày trở về, Estudiantes vô địch Apertura, thêm một lần nữa vào năm 2010. Đặc biệt, chức vô địch cấp CLB Nam Mỹ - Copa Libertadores đã hồi sinh một phần tâm hồn anh. Anh nói với tờ Ole vào đêm trước trận chung kết: “Tôi sẽ đánh đổi tất cả thành tích của tôi, tất cả mọi chiến thắng của tôi ở châu Âu, tất cả mọi thứ tôi đã giành được cho đến hôm nay, chỉ cho chiến thắng này”.
    Ngày cuối cùng của năm 2016 vừa qua, Veron gây bất ngờ cho tất cả với tuyên bố trở lại chơi bóng ở tuổi 41. Một lần nữa, anh ký hợp đồng với Estudiantes, như để sống lại cảm giác của chàng trai 18 tuổi năm nào ký hợp đồng chuyên nghiệp với CLB vậy. Nói vậy thôi, giờ phút này Veron đâu còn sân si thành tích nữa, anh thích đá bóng nhưng chỉ còn hợp với các trận du đấu của các ngôi sao đang… dối già. Seba chưa có trận đấu chính thức nào trong lần trở lại này, và có lẽ sẽ không có.
    Như ánh sao băng cắt ngang dải thiên hà, Juan Sebastian Veron không chỉ là một cái tên mà còn là sự định nghĩa cho những gì xuất chúng nhất nhưng cũng yểu mệnh nhất. Phù thủy nhỏ - như chính biệt danh của anh, sử dụng phép thuật ma mị của đôi chân và khối óc để tạo nên những điểm nhấn chấm phá trong thời đại hoàng kim của Serie A. Để rồi hàng chục năm sau, những người hoài cổ và yêu cái đẹp vẫn chép miệng mà rằng: Phải chi Veron đừng sang Man Utd, thì cái đầu trọc ấy sẽ còn huy hoàng biết mấy!




    Một bàn thắng có sự tham gia của cả 11 cầu thủ luôn là mục tiêu phấn đấu cả đời của Pep Guardiola. Trước Hull, Man City ít ra đã làm ông thầy người Tây Ban Nha hãnh diện với bàn thắng của Sergio Aguero.

    Trong cuốn sách của Vicente Muglia nói về tầm ảnh hưởng của Jorge Valdano tới Pep Guardiola có đoạn: "Pep nói với tôi về một ý tưởng khác, rằng bàn thắng lý tưởng của anh ấy là khi cả 11 cầu thủ chuyền cho nhau mà không cho đối phương chạm bóng, đương nhiên người cuối cùng sẽ đưa bóng vào lưới". Khi đó, Pep mới 23 tuổi.

    Và giờ ông 46 tuổi, không một ngày nào đánh rơi ý niệm đấy. Mọi đội bóng trong tay Guardiola đều sẽ chơi như thế, với điểm xuất phát từ bất cứ đâu trên sân, luân chuyển đều đặn kéo giãn đội hình đối phương, đương nhiên có sự tham gia của thủ môn. Barca đã thực hiện bàn thắng kiểu này nhiều lần, ở Bayern cũng không đếm xuể. Nhưng với Man City, chỉ cho đến trận đấu gần nhất với Hull, cơ mặt của Pep mới giãn ra được chút ít.

    Trước sức ép 4 trận gần nhất tại Ngoại hạng Anh không thắng, Man City tiếp đón Hull với tâm lý nặng trĩu. Kể cả khi Ahmed El Mohamady "giúp" đội nhà khai thông bế tắc, mọi thứ trên sân vẫn là một công trường danh dở với Guardiola. Nhưng may thay, bàn thắng thứ 2 do công của Aguero đã cho Pep chút ít niềm tin vào tương lai. Đó là một bàn thắng kiểu mẫu theo đúng định nghĩa của ông.

    Jesus Navas là người khởi xướng, bóng được đá ma lần lượt qua chân Claudio Bravo, John Stones, Yaya Toure và Aleksandar Kolarov ngay trước vòng cấm Man City. Giai đoạn triển khai lên trên, Fabian Delph, Gael Clichy tìm thấy Sergio Aguero. Leroy Sane là người tiếp theo, anh phối hợp với Clichy và Toure trước khi bóng đến chân David Silva. Raheem Sterling nhận bóng trong tư thế trống trải, anh bứt tốc và căng ngang vào trong cho Aguero làm nhiệm vụ cuối cùng. Bàn thắng là của tiền đạo người Argentina, kiến tạo thuộc về Sterling nhưng công sức là của cả 11 người bên phía Man City.

    Bàn thắng thứ hai là ví dụ lớn của một đội bóng mà chúng tôi đang hướng đến. Tôi không thích một tập thể mà hậu vệ chỉ phòng ngự, tiền đạo thì ghi bàn, tiền vệ chăm chăm làm bóng. Tôi không thích điều đó. Tôi muốn tất cả mọi người đều tham gia xây dựng lối chơi, cả việc phòng ngự cũng vậy".

    "Ngay từ những phút đầu, chúng tôi gây áp lực lớn và cố gắng triển khai bóng vì lý đo này. Tất cả mọi người đều phải tham gia, tất cả đều muốn có bóng và thật may mắn khi bàn thắng thứ hai đã đến".

    Hull đương nhiên là phép thử nhỏ, bàn thắng kể trên có khi cũng chỉ là giây phút thăng hoa hiếm hoi của nửa xanh thành Manchester, nhưng ít ra sự truyền đạt của Pep đã thu về thành quả. Người nói có kẻ nghe, The Citizens chứng minh mình vẫn đang tiến bộ từng ngày. Thêm thời gian, Man City trở thành "Barca của nước Anh" cũng không biết chừng.

    LỘC TRẦN
      13:39 ngày 09-04-2017



    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    Pep Guardiola đã thấy bàn thắng hoàn hảo ở Man City

    DAVID NGUYEN  |  at  5:12:00 AM

    Một bàn thắng có sự tham gia của cả 11 cầu thủ luôn là mục tiêu phấn đấu cả đời của Pep Guardiola. Trước Hull, Man City ít ra đã làm ông thầy người Tây Ban Nha hãnh diện với bàn thắng của Sergio Aguero.

    Trong cuốn sách của Vicente Muglia nói về tầm ảnh hưởng của Jorge Valdano tới Pep Guardiola có đoạn: "Pep nói với tôi về một ý tưởng khác, rằng bàn thắng lý tưởng của anh ấy là khi cả 11 cầu thủ chuyền cho nhau mà không cho đối phương chạm bóng, đương nhiên người cuối cùng sẽ đưa bóng vào lưới". Khi đó, Pep mới 23 tuổi.

    Và giờ ông 46 tuổi, không một ngày nào đánh rơi ý niệm đấy. Mọi đội bóng trong tay Guardiola đều sẽ chơi như thế, với điểm xuất phát từ bất cứ đâu trên sân, luân chuyển đều đặn kéo giãn đội hình đối phương, đương nhiên có sự tham gia của thủ môn. Barca đã thực hiện bàn thắng kiểu này nhiều lần, ở Bayern cũng không đếm xuể. Nhưng với Man City, chỉ cho đến trận đấu gần nhất với Hull, cơ mặt của Pep mới giãn ra được chút ít.

    Trước sức ép 4 trận gần nhất tại Ngoại hạng Anh không thắng, Man City tiếp đón Hull với tâm lý nặng trĩu. Kể cả khi Ahmed El Mohamady "giúp" đội nhà khai thông bế tắc, mọi thứ trên sân vẫn là một công trường danh dở với Guardiola. Nhưng may thay, bàn thắng thứ 2 do công của Aguero đã cho Pep chút ít niềm tin vào tương lai. Đó là một bàn thắng kiểu mẫu theo đúng định nghĩa của ông.

    Jesus Navas là người khởi xướng, bóng được đá ma lần lượt qua chân Claudio Bravo, John Stones, Yaya Toure và Aleksandar Kolarov ngay trước vòng cấm Man City. Giai đoạn triển khai lên trên, Fabian Delph, Gael Clichy tìm thấy Sergio Aguero. Leroy Sane là người tiếp theo, anh phối hợp với Clichy và Toure trước khi bóng đến chân David Silva. Raheem Sterling nhận bóng trong tư thế trống trải, anh bứt tốc và căng ngang vào trong cho Aguero làm nhiệm vụ cuối cùng. Bàn thắng là của tiền đạo người Argentina, kiến tạo thuộc về Sterling nhưng công sức là của cả 11 người bên phía Man City.

    Bàn thắng thứ hai là ví dụ lớn của một đội bóng mà chúng tôi đang hướng đến. Tôi không thích một tập thể mà hậu vệ chỉ phòng ngự, tiền đạo thì ghi bàn, tiền vệ chăm chăm làm bóng. Tôi không thích điều đó. Tôi muốn tất cả mọi người đều tham gia xây dựng lối chơi, cả việc phòng ngự cũng vậy".

    "Ngay từ những phút đầu, chúng tôi gây áp lực lớn và cố gắng triển khai bóng vì lý đo này. Tất cả mọi người đều phải tham gia, tất cả đều muốn có bóng và thật may mắn khi bàn thắng thứ hai đã đến".

    Hull đương nhiên là phép thử nhỏ, bàn thắng kể trên có khi cũng chỉ là giây phút thăng hoa hiếm hoi của nửa xanh thành Manchester, nhưng ít ra sự truyền đạt của Pep đã thu về thành quả. Người nói có kẻ nghe, The Citizens chứng minh mình vẫn đang tiến bộ từng ngày. Thêm thời gian, Man City trở thành "Barca của nước Anh" cũng không biết chừng.

    LỘC TRẦN
      13:39 ngày 09-04-2017



    Trước mùa giải huyền diệu 2003/04 của Arsenal, bóng đá châu Âu từng chứng kiến một sự kiện tương tự, là Scudetto của AC Milan mùa 1993/94. Nhưng những thước phim lịch sử kể về chiến tích vĩ đại ấy lại tuyệt nhiên không hề mang màu sắc sinh động. Fabio Capello đã dập tan hoài nghi về sự thực dụng trong ý đồ chiến thuật của giới cầm quân Italia, đồng thời đẩy sự “tiêu cực” trong bóng đá phòng ngự lên cảnh giới cao nhất.

    ourinho từng nói những chiến thắng đẳng cấp nhất trong bóng đá phải kết thúc với tỷ số 1-0. Thực ra, trước đấy khá lâu, là Capello “phát minh” ra công thức chiến thắng tối thiểu này.
    Mùa 1993/94, Milan vô địch Serie A mà chỉ ghi vỏn vẹn 36 bàn, song cũng để lọt lưới đúng 15 lần. Đội có 9 chiến thắng với tỷ số 1-0 và 22 trận giữ sạch lưới, bao gồm chuỗi 9 trận liên tiếp trên sân nhà giúp Sebastiano Rossi lập kỷ lục 920 phút giữ vững cầu môn.
    Trả lời phỏng vấn tờ La Gazzetta dello Sport, Capello đã khái niệm hóa ý nghĩa của những thắng lợi 1-0: “Có 3 sự thật được rút ra: Milan giành trọn 3 điểm, Milan giữ sạch lưới và Milan chiến đấu vì lý tưởng giữ chắc khung thành. Ngạn ngữ phương Tây đã nói, bạn nấu vang dựa trên những quả nhỏ cuối cùng trong tủ lạnh. Ngon hay dở phụ thuộc vào bếp trưởng”.
    Capello ngày ấy thậm chí còn cực đoan hơn Mourinho bây giờ. Mọi thứ luôn dừng lại ở ngưỡng “vừa đủ” và các cánh cửa tiến vào khung thành hai bên ngay lập tức đóng lại khi Milan vươn lên dẫn trước.
    Sự chính xác tới tuyệt đối của Capello và Milan 1993/94 đe dọa tới sức cống hiến của bóng đá. LĐBĐ Italia FIGC lo sợ nếu Milan cứ tiếp tục chơi bóng như một cỗ máy vô cảm được lập trình tới từng hành vi thế này, khán giả sẽ không tới sân. Cuối cùng, nhân danh “vì bóng đá tấn công”, giới cầm quyền quy định mỗi chiến thắng có giá trị 3 điểm kể từ mùa giải kế tiếp. Mà thực chất, ai cũng hiểu bước đi ấy là động thái nhằm “hạn chế” sức mạnh lan tỏa của Milan.
    Fabio Capello khá kiệm lời. Những cuộc đối thoại trong phòng thay đồ thường diễn ra một chiều. Ông ra lệnh, đưa yêu cầu và buộc cầu thủ đáp ứng. Nếu ai đó không thể làm đúng nguyện vọng của Capello, họ sẽ tự động bị thải loại và nhường chỗ cho một nhân vật khác.
    Trả lời tờ Daily Record, Brian Laudrup tiết lộ cách quản trị của Capello không tồn tại khái niệm tình cảm. Cựu chủ tịch Silvio Berlusconi thì nhanh chóng nhìn thấy đặc tính “không tranh luận” trong hướng tiếp cận vấn đề của Capello. Ông nói, và người khác tuân lệnh.
    Jean-Pierre Papin coi thứ bóng đá Capello xây dựng là buồn tẻ. “Không ai muốn tham gia vào trò chơi của ông ấy nếu có lựa chọn”, Papin nói. Làm việc dưới trướng Capello không khác là bao cuộc sống của những tù nhân. Làm theo chỉ đạo của quản ngục là phương án duy nhất.
    Nhưng Capello dường như không bận tâm các tác động ngoại cảnh. Ông chỉ chú ý tới Scudetto thứ 3 trong sự nghiệp cầm quân của mình. Thành tích 0,44 bàn thua/trận mùa 1993/94 của Milan thực sự là một đỉnh cao của nghệ thuật phòng ngự.
    Suốt chiều dài lịch sử bóng đá, chỉ 4 đội làm tốt hơn Milan của Capello là Milan 1968/69 của Nereo Rocco (0.4), Chelsea 2004/05 của Jose Mourinho(0.395), Liverpool 1978/79 của Bob Paisley (0.381) và Cagliari 1969/70 (0.367). Phải dành những tràng pháo tay cho Capello bởi cuối cùng, ông vẫn mang Cúp về - mục đích sau cuối của bất kể đội bóng nào.
    Từ ngày xỏ giày đá bóng, Capello đã tận dụng cơ hội quý báu hàng tuần để tiếp cận các tư tưởng chiến thuật. Tiền vệ trung tâm mạnh mẽ nhưng không kém phần tinh tế này khởi nghiệp ở Spal và chuyển tới Roma năm 1967. Thật tình cờ, đúng một năm sau, HLV huyền thoại Helenio Herrera về thủ đô (người nâng tầm Catenaccio, giúp Inter vô địch quốc gia 3 lần và C1 châu Âu 2 lần liên tiếp).
    Với cá nhân Capello, Herrera là một thiên tài. Chiến lược gia có biệt danh Il Mago sở hữu trí tuệ đi trước thời đại 10 năm. Trong tự truyện, Capello nhấn mạnh “Ông học Herrera từ kiến thức chuyên môn tới kỹ năng quản trị”.
    Nhà báo Gabriel Marcotti kể lại câu chuyện khiến ông ấn tượng nhất trong quá trình đi theo Capello để chắp bút cho cuốn sách. Đó là kỹ nghệ sử dụng ngôn ngữ của Herrera. Ông luôn nói “Tập theo cách chúng ta chơi trên sân chính”.
    Vào buổi sáng ngay trước giờ bóng lăn, Herrera sẽ tới túm lấy áo học trò và hét vào mặt họ: “Cậu là thằng khỏe nhất. Cậu sẽ ăn thịt bọn chúng cho bữa sáng. Và nếu chẳng may, một cầu thủ tỏ ra uể oải hoặc chạy chậm làm lỡ bài tập toàn đội, anh ta sẽ bị mời về nhà.
    Năm 1970, Capello tới Juventus. Đội vừa bổ nhiệm tân HLV Armando Picchi - người cách đấy không lâu còn là chỉ huy trưởng trong sư đoàn Inter hùng mạnh mà Herrera dẫn dắt. Nhưng căn bệnh quái ác liên quan tới cột sống sớm cướp đi cuộc sống của Picchi. Juve đưa Cest Vycpalek, cậu ruột của Zdenek Zeman từ đội trẻ lên nắm quyền. Ở Turin, Capello giành chiến thắng vào các năm 1972, 1973 và 1975 rồi sau đó cập bến Milan.
    Giống như tình tiết của lần chuyển sang Roma, Capello lại nhanh chóng có cơ hội về chung mái nhà với một huyền thoại Catenaccio khác. Lần này là Rocco, kiến trúc sư của Milan trong kỷ nguyên vàng ở thập niên 1960 của CLB. Điều đó đồng nghĩa, ngay từ khi là cầu thủ, Capello đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai triết lý chiến thuật hàng đầu Italia.
    Niels Liedholm là HLV cuối cùng Capello cộng tác trước ngày giải nghệ. Nhưng có vẻ HLV nổi tiếng với phong cách thư giãn cùng lối trò chuyện mềm mỏng không phải gu của Capello.
    Một lần, Berlusconi thử đề nghị liệu Capello có thể tươi tỉnh hơn mỗi lần đứng chỉ đạo hay không. Câu trả lời ngài thủ tướng thuở nào nhận về là: “Khi làm việc, tôi không có nghĩa vụ đáp ứng bất kể yêu cầu nào, ngoại trừ kết quả”.
    Là con trai của một giáo viên, Capello sớm bộc lọ khả năng lãnh đạo bẩm sinh. Ông dấn thân vào giới huấn luyện và bắt đầu công việc ở hai đội U17, U19 Milan. Capello hạnh phúc với công việc vì nó cho ông cảm giác của người thợ chăm vườn nhìn những mầm cây lớn lên từng ngày.
    1986 là năm bản lề với Capello. Sau sự cố dàn xếp tỷ số Totoreno đẩy Milan vào cảnh nợ nần suốt nhiều năm liền, Berlusconi xuất hiện và bơm nguồn doping tài chính cùng tham vọng đế vương.
    Năm đó, Liedholm là HLV trưởng còn Capello đóng vai trợ lý. Nhưng chiếc phao cứu sinh mà Berlusconi quẳng xuống chưa giúp Milan hồi phục ngay. Đội đã trải qua năm 1986 đầy biến động. Có lần, CĐV quá khích ném gạch vào thẳng cabin huấn luyện, làm vỡ mảng kính áp tai Liedholm.
    Vào tháng 4/1987, sau thất bại ở Coppa Italia trước Parma của Arrigo Sacchi và tiếp đến là một trận thua khác ở Serie B, HLV người Thụy Điển nhận trát sa thải. Capello tạm thời lên nắm quyền.
    Ông nhanh chóng cho thấy sự tàn nhẫn và tính quyết đoán tới độc tài, vốn thừa hưởng bởi Helenio Herrera - HLV đầu tiên áp dụng các biện áp quản trị cứng rắn và đề cao kỷ luật nội bộ. Trong một trận đấu, Capello từng đưa Guiseppe Galderisi vào sân sau giờ nghỉ giữa hiệp và thay anh ta đúng 14 phút sau vì một dụng ý chiến thuật.
    Nhờ “quyền HLV” Capello, Milan có vé đi UEFA Cup. Song Berlusconi bấy giờ vẫn chưa nguôi ngoai ám ảnh để thua Parma của Sacchi. Trên con đường phục hưng Milan, Berlusconi liền mang về Sacchi.
    Sacchi, một cựu tư vấn bán hàng ở shop giày dép, quả thật là một thiên tài. Ông làm cuộc cách mạng bóng đá bằng sơ đồ 4-4-2 tưởng chỉ dành cho những anh chàng thừa sức khỏe, thiếu trí khôn ở Anh. Hệ thống phòng ngự khu vực được giới thiệu và các bài tập chạy chỗ chọn vị trí trở thành nền tảng của mọi cuốn sách giáo khoa sau này. Những diễn viên trực tiếp làm nên đoàn kịch vĩ đại này rặt toàn hào thủ: Marco van Basten, Ruud Gullit, Frank Rijkaard và Carlo Ancelotti. Một thế hệ vàng đích thực.
    Trong khoảng thời gian này, Capello ở đâu? Ông tạm rời ánh đèn sân khấu nhưng không phải để quay về công tác đào tạo trẻ. Tiềm năng của Capello buộc giới điều hành Milan đưa vào ông diện “cơ cấu”. Họ gửi Capello tới khóa học kéo dài 1 năm dành riêng cho những chức vụ quản lý cao cấp ở bất kỳ tập đoàn nào.
    Không nằm ngoài dự đoán, Capello hoàn thành xuất sắc khóa học. Người đàn ông tới từ tỉnh lẻ Gorizia chiếm trọn cảm tình của Berlusconi và ngồi vào ghế giám đốc Polisportiva Milan - trung tâm giám sát nội bộ các đội tuyển bóng chuyền, khúc côn cầu, bóng chày và rugby mang thương hiệu Milan sau khi lần lượt kinh qua các vị trí hành chính nhân sự, tiếp thị và quản lý tài chính.
    Năm 1991, Berlusconi sa thải Sacchi, trao quyền tiếp quản cho Capello. Di sản nhận lại từ người tiền nhiệm là một tập thể gặt hái biết bao thành công, nhưng đang trên đà soái trào. Ngày chia tay, Sacchi gửi lời tạm biệt: “Tôi nghĩ họ là những kẻ vĩ đại nhưng đang ở đoạn cuối của chu kỳ thành công”.
    Sau này, Sacchi phải thừa nhận “Tôi đã sai”. Vì Capello.
    Ngày Capello vào ghế nóng, truyền thông xứ mỳ ống coi ông là con rối trong tay Berlusconi. Ống kính máy quay không mấy khi ghi âm được câu phát biểu nào của Capello và thế là, họ cho rằng Capello tự nhận thức được vai trò và tầm ảnh hưởng của mình. Ông không ở vị trí của kẻ được phép phàn nàn về sự đầu tư nhỏ giọt của Berlusconi, với sự bổ sung đáng kể duy nhất là đưa Demetrio Albertini từ đội trẻ lên thay Ancelotti.
    Đối mặt bao nhiêu khó khăn song Capello vẫn còn đấy Gullit, Basten và bộ tứ hậu vệ có thể xem là ăn ý và hoàn hảo nhất. Họ cùng chia sẻ tình yêu, hiểu biết và văn hóa: Mauro Tassotti - tới Milan từ Lazio vào đầu thập niên 1980 cùng bộ ba cây nhà lá vườn Paolo Maldini, Alessandro Costacurta và Baresi.
    Capello đặc biệt trân trọng “bộ tứ” này bởi bản thân ông cũng hiểu họ chẳng kém gì họ hiểu nhau. Capello đã từng là đồng đội của Baresi, trực tiếp quản lý Maldini và Costacurta ở tuyến trẻ. Thêm nữa, những cầu thủ này đều thuộc diện “con nhà nòi”, thừa hưởng gen bóng đá đỉnh cao của gia đình giàu truyền thống.
    Maldini là con trai của Cesare, trung vệ trứ danh từng cùng Milan giành 4 scudetto và 1 ngôi danh hiệu châu Âu trong thập niên 1960 và 1970 thế kỷ trước. Casare từng làm việc cùng HLV Rocco dưới hai vai trò khác nhau là cầu thủ và trợ lý.
    Một điểm đáng lưu ý khác, là giữa Capello và những biểu tượng chiến thuật Italia còn có giao điểm địa lý. Cesare và Rocco tới từ Trieste, thành phố ven biển nằm sâu ở Đông Bắc Italia. Capello sinh ra ở San Canzian d’Isonzo – cách Trieste chỉ 30 phút lái xe.
    Lợi thế đáng kể nữa của Capello trong kế hoạch xây dựng Milan trên nền tảng bộ tứ vệ là di sản to lớn của Sacchi. Ông ta là con nghiện chiến thuật và có thể lảm nhảm về bóng đá trong mơ. Khối lượng tập luyện Sacchi đề ra đồ sộ tới mức Frank Rijkaard sẵn sàng úp mặt vào bồn cầu để “thỏa mãn” cơn ói mửa. Đổi lại, phương pháp của Sacchi đảm bảo ngay cả khi bị bịt mắt, các cầu thủ vẫn dễ dàng chơi bóng đúng như kỳ vọng của ông.
    “Các buổi tập của Sacchi rất điên rồ”, Maldini chia sẻ trên Daily Mail hồi 2005. Maldini nói tiếp: “Sacchi bắt bạn làm việc chăm chỉ và thâm nhập vào não bộ của bạn. Ông ấy bắt từng người lặp lại một hành động nhiều lần, nhất là các hậu vệ. Ngày qua ngày. Nhưng nếu tôi, Baresi và Tassotti lại có cơ hội đoàn tụ, chúng tôi sẽ chơi thứ bóng đá đỉnh cao của những năm 1990. Vì đó là tiềm thức”.
    Giai đoạn đầu nhận việc, Capello duy trì sơ đồ quen thuộc 4-4-2. Milan ghi tới 74 bàn ngay trong chiến dịch Serie A đầu tiên của Capello. Ngày cuối cùng mùa giải, Milan vùi dập Foggia của Zeman 8-2 không thương tiếc.
    Ở đấu trường châu lục có phần ngược lại. Sự cố xảy ra trong trận tứ kết Cúp châu Âu cách đó 1 năm. Dàn đèn trên sân bất ngờ dừng hoạt động vào đúng khoảng thời gian hiệp phụ khi tỷ số đang là 1-0 nghiêng về Marseille.
    Lực lượng sửa chữa nhanh chóng khắc phục lỗi nhưng Adriano Galliani đã nhanh nhẩu đưa cầu thủ vào phòng thay đồ và từ chối quay trở lại sân với hy vọng gây áp lực buộc UEFA phải tổ chức đá lại. Nhưng UEFA không coi đó là yêu cầu hợp lý nên ra án phạt cấm Milan dự các giải đấu châu lục trong 12 tháng.
    Dù sao, cú đại nhảy vọt của Capello cũng đã tới thời điểm. Berlusconi quyết định tái bạo chi và mở hầu bao vào năm 1992. CLB phá kỷ lục chuyển nhượng bằng bản hợp đồng với Gianluigi Lentini, tậu thêm đương kim QBV châu Âu Papin, gọi lại Zvonimir Boban từ Bari và đánh canh bạc với tiền vệ Dejan Savicevic – nguồn cảm hứng của Sao Đỏ Belgrade trong chiến tích vô địch châu Âu 1991. Những tân binh này hợp cùng bộ 3 người Hà lan bay, tạo thành phòng truyền thống danh giá bậc nhất hành tinh với 5 kỷ niệm chương Ballon d’Or.
    Nhưng câu chuyện thời thế đẩy Capello vào cơn đau đầu. Đạo luật “3 cầu thủ ngoại quốc trên sân cùng lúc” buộc vị HLV này phải đưa ra những lựa chọn nghiệt ngã, dù sự thật là 6 ngôi sao tấn công này ghi cả thảy 65 bàn trong mùa giải 1992/93.
    Vấn đề nhức nhối nhất Capello thật sự cần giải quyết là phòng thủ - điểm tựa Capello tưởng là vững chãi nhất. Ông cố gắng thử nghiệm Rijkaard và Albertini ở vị trí tiền vệ lùi nhưng tinh chỉnh này không giúp đội cải thiện khả năng chống đỡ. Hệ quả là 32 bàn thua.
    Dẫu sao, Milan vẫn bảo vệ thành công Scudetto mùa 1992/93 mà chỉ để thua đúng 2 trận trong cả chiến dịch.
    Ở một diễn biến khác, vết đau ở mắt cá chân của Van Basten tái phát. Tiền đạo người Hà Lan được dự báo phải ngồi ngoài vài tháng, đúng vào lúc Milan hết án phạt và quay trở lại sân chơi C1 dưới tên gọi mới là Champions League.
    Trong cả chiến dịch, Milan đã thể hiện bộ mặt lầm lỳ đáng sợ. Cả vòng bảng, đội thủng lưới duy nhất 1 bàn sau 6 trận. Nghiệt ngã ở chỗ trước ngưỡng cửa thiên đường, Milan lại để Marseille – đội cửa dưới của trận chung kết đánh bại 1-0.
    Những thống kê lúc này không còn nhiều ý nghĩa. Capello luôn ngờ ngợ có gì đó không ổn ở hàng thủ.
    Bây giờ là mùa giải 1993/94 – “nhân vật chính” trong bài viết của chúng ta hôm nay. Capello hướng tới ngai vàng lần thứ 3 liên tiếp. Chuyến tàu tới Milan đón thêm ba vị hành khách là Laudrup, Panucci và Raducioiu. Ở chiều ngược lại, những người rời đi là Rijkaard (về Ajax) và Gullit (cho Sampdoria mượn).
    Quyết định loại Gullit của Capello gây nhiều tranh cãi. Tất nhiên là ông đủ tự tin và hiểu biết khi đưa ra phán xét. Cho tới khi các tác động ngoại cảnh ồ ạt ập tới.
    Papin liên tục làm bạn với giường bệnh. Marco Simeone mình mẩy đòi ra đi. Savicevic trở thành bóng ma đúng nghĩa trên mặt trận chuyên môn nhưng Capello chẳng thể kỷ luật anh này vì sự ưu ái cá nhân của ông chủ Berlusconi.
    Đỉnh điểm là tháng 8/1993, Lentini mất lái khi đang điều khiển siêu xe Porsche. Chiếc xe văng khỏi đường, trượt thẳng xuống một con mương và phát nổ. Lentini nứt hộp sọ, trải qua hai ngày hôn mê. Ở tuổi 24, Lentini còn đủ may mắn phục hồi thể trạng, nhưng vĩnh viễn đánh mất đi tài năng bóng đá xưa kia.
    Tình trạng của Van Basten không mấy khá khẩm. Mắt cá chân của Basten ngày càng tệ hơn sau khi Capello liều lĩnh sử dụng anh trong trận chung kết gặp Marseille cách đó mấy tháng. Giải nghệ là kết cục không thể khác. Ở tuổi 28, Van Basten nói lời chào tạm biệt San Siro.
    Mất mát này vượt qua khuôn khổ của một trận bóng đá. Sacchi vĩ đại là thế mà vẫn bị Berlusconi tống cổ chỉ vì mối quan hệ bất hòa với Van Basten. Tờ FourFourTwo từng tiết lộ thông tin một fan hâm mộ nhiệt thành của Milan, Paolo Simonetti, sẵn sàng hiến tặng phần sụn của mình để các bác sỹ có thể chữa lành vết thương mãn tính của Van Basten.
    Galliani ví Van Basten như Leonardo da Vinci toàn năng. Ngày Van Basten giải nghệ, Capello ngồi bất động trong cabin huấn luyện, còn nước mắt cứ thế rơi.
    Cứu cánh cuối cùng của Capello là chân sút kỳ cựu Daniele Massaro, người đạt hiệu suất… 5 bàn ở mùa trước đấy. Kiểu tiền đạo như thế chưa bao giờ đạt hệ số an toàn đảm bảo cho tham vọng Scudetto.
    Milan khởi đầu mùa giải bằng thắng lợi 1-0 trước Torino ở trận siêu Cúp Italia. Nhưng bài thử nghiệm thật sự cho một “phong cách mới tinh” chỉ thật sự diễn ra ở Serie A.
    7 vòng đầu tiên có kết quả lần lượt là 1-0, 1-0, 0-0, 2-0, 2-0, 2-0, 0-0. Hai lượt tiếp theo là các kết quả hòa trước Foggia và Juve. Những dự cảm bất an dần len lỏi và hóa ra, Milan đúng là không ổn chút nào. Họ thua ngược Sampdoria 2-3 dù đã dẫn trước 2 bàn trong hiệp 1. Người ấn định tỷ số trận đấu, thật trớ trêu, là Gullit.
    Thảm họa là kịch bản in sẵn trong đầu Capello khi ông đón thêm hung tin. Boban, người thay thế Rijkaard, nghỉ thi đấu 3 tháng vì chấn thương. Bổ sung lực lương là nhiệm vụ bất khả thi bởi thị trường chuyển nhượng sẽ đóng cửa sau đây 2 ngày. Milan cũng đã khóa sổ tài chính.
    Capello tìm gặp Galliani. Bộ đôi thống nhất bí mật liên lạc Marseille và đưa Marcel Desailly về. Đây chưa phải chi tiết bất bình thường duy nhất trong thương vụ này.
    Milan, trong suốt thời gian trước đó, không coi trung vệ người Pháp là mục tiêu cần lưu tâm. GĐKT Ariedo Braida có tới Pháp do thám nhưng là để soi giò Boksic, đồng đội của Desailly. Là may mắn hay là định mệnh, nhưng trận đấu ấy là màn trình diễn xuất sắc nhất mùa giải của Desailly.
    Có Desailly, Capello suy nghĩ nghiêm túc về đất diễn của tân binh. Desailly sẽ trám vào chỗ trống Boban bỏ lại. Khi cần, một tiền đạo sẽ lùi về giữa sân và kiến tạo sơ đồ 4-1-4-1.
    Điều chỉnh của Capello như cái tát vào khối kiến trúc Sacchi hằng công xây dựng bao năm nay. Nhưng tính hiệu quả của nó là khỏi phải bàn. Để một trung vệ lên chơi tiền vệ chỉ rõ ý đồ tiếp cận trận đấu quyết liệt và chặt chẽ hơn.
    Sự hiện diện của “hộ pháp” Desailly đảm bảo Costacurta và Baresi không rơi vào trạng thái mất phương hướng. Silvano Ramaccioni chia sẻ với nhà báo Marcotti: “Desailly là máy quét trước hàng thủ. Nghĩa là, một khối lượng lớn công việc phòng ngự đã được Desailly đảm nhận và áp lực lên vai tứ vệ vô tình biến mất”.
    Capello không giao đích danh phần việc cụ thể nào cho Desailly. Ông chỉ đơn thuần là yêu cầu Desailly đoạt lại bóng trong các tình huống tranh chấp. Hoặc thậm chí, việc Desailly án ngữ trước bức tường bảo vệ đã là một cú hích với trận địa phòng thủ. Đối phương tự động dạt biên và gián tiếp giúp Milan chủ động thi triển kế hoạch phòng ngự vì chẳng ai muốn đối đầu với Desailly.
    Hàng thủ 1993/94 của Milan định hình từ ấy. Cộng thêm phương pháp huấn luyện qua băng hình nhằm phát hiện sai số của Capello, Milan đưa bóng đá về trạng thái đóng băng với tất cả, ngoại trừ họ.
    Cuộc đời có lúc này lúc kia. Bóng đá cũng vậy. Đâu phải lúc nào, điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. Tháng 02/1994, Milan thua Parma ở trận siêu Cúp châu Âu. Ở Serie A, đội thua liền hai vòng 29 & 30 sau khi đã thắng liền 9 trận trước đó. 7 trận liền kề, đội không thắng: Hòa 5 và thua 2.
    Vậy nhưng, những kẻ mừng thầm trong lòng không có dịp để cười nhạo Capello. Ông hầu như không mở miệng hay nhoẻn một nụ cười gượng ép nào. Mắt là bộ phận cơ thể Capello sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp hàng ngày. Tự cầu thủ, từng người một, nhìn vào Capello và hiểu nhiệm vụ của họ.
    Rất nhiều người tỏ thái độ không hài lòng vì… thái độ của Capello. Tuy nhiên, đừng mong nhận về sự an ủi hay vỗ về của Capello. Ông cố tình tạo ra những tình huống bắt cầu thủ phải đối mặt với chuyện này. Boban nói trên BBC bạn không bao giờ biết rõ Capello đang tức giận hay là ông ta chờ đợi sự phản bác của cầu thủ.
    Capello âm thầm, dền dứ kích động bầu không khí bởi ông muốn chạm vào tận cùng lòng tự trọng của các học trò. Để rồi, mọi người đều bung hết nội lực sau quá nhiều ngày bị tổn thương. Hưởng lợi nhiều nhất, chắc chắn là tập thể.
    Cũng thật viển vông nếu muốn nghe lời xin lỗi từ miệng Capello. Không cấm đoán những lời động viên tếu táo nhưng trong giờ làm việc của Capello, tuyệt đối không tồn tại sự cợt nhả hay quá trớn.
    Trên FourFourTwo, Capello nói: “Mọi người kêu có vấn đề với vợ, với con cái, với gia đình. Vâng, sự thật là ai cũng trải qua những khó khăn điển hình của cuộc sống ấy. Thế tôi hỏi, chúng ta đang ở đâu? Tới văn phòng là để làm việc, như thế mới đúng mục đích sử dụng văn phòng. Tôi cần cầu thủ của mình làm việc quần quật, hoàn thành bài tập tôi giao cho họ. Lắng nghe và hành động, nói ít thôi”.
    Chiến lược ấy phát huy tác dụng. Nếu không vì lối chơi phòng ngự cực đoan nhưng dựa trên nền móng khoa học ấy, Capello chắc chắn không bao giờ hoàn tất cú hat-trick Scudetto - kỳ tích đã không lặp lại kể từ cú ăn ba liên tiếp của Torino trong thập niên 1940.
    Không phải ai cũng dám nhìn vào sự thật này. Điển hình là Barca, đối thủ của Milan trong trận chung kết Champions League cùng năm. Báo chí Tây Ban Nha gọi Milan là kẻ cổ động giá trị xấu mang tên catenaccio. Nếu Barca dùng tiền tậu Romario tài hoa thì Milan đưa về đồ tể Desailly. Đến cả “thánh” Cruyff còn khẳng định “Milan chẳng là gì ở thế giới này”.
    Ở khía cạnh nào đó, có thể đồng cảm với suy nghĩ đó. Vì quả thật, Milan của Capello quá xấu xí, xù xì và thô ráp. Song trên hết, đó là tập thể bách chiến bách thắng, là mô hình tiêu biểu cho bất kỳ đế chế trị vì nào. Mặc cho cảm giác của những thắng lợi ấy mang lại chẳng “cao cấp” chút nào, thậm chí còn có phần hạ đẳng.
    Xin kể thêm một ví dụ về sự thông thái của Capello. Như đã biết, giữa Capello và Savicevic tồn tại mâu thuẫn. Trước chuyến bay sang Nhật Bản dự Cúp liên lục địa, Capello hay tin Savicevic có khả năng không đủ điều kiện ra sân vì nhận một án phạt từ FIFA trong lần quay về phục vụ nghĩa vụ quốc gia trước đấy ít lâu.
    Suất chơi đăng ký cho Savicevic chuyển nhượng sang Raducioiu, “sao xịt” của Milan. Tuyển thủ Romania nhận lời hứa danh dự của Capello rằng anh chắc chắn sẽ được trao cơ hội thi đấu.
    Từ FIFA, người ta phát đi thông báo Savicevic đủ điều kiện đi Nhật. Capello, như thói quen, không thỏa hiệp. Ông bỏ mặc Savicevic, cho Raducioiu vào sân và Milan đá trong tâm thế “chấp người”.
    Đến đây, sự nghiệp của Savicevic ở kinh đô thời trang coi như tiêu tàn. Capello đã đăng đàn chê bai thậm tệ tác phong của Savicevic: “Cậu ta tập tành gì đâu. Cho vào đá thì người khác phải nhân đôi cường độ bù vào à?”.
    Nhưng Capello không “ngu ngốc” như thế. Ông thừa trình độ để có cảm nhận tối thiểu, Savicevic – nhà vô địch châu Âu 1991 – không phải dạng vừa. Đêm Athens định mệnh, Capello bất ngờ điền tên Savicevic vào đội hình xuất phát.
    Và Sav đã chơi trận đấu cuộc đời. Anh kiến tạo cho Massaro mở tỷ số và trực tiếp nâng tỷ số lên 3-0 bằng cú lốp bóng đẳng cấp. Bàn thứ 4 dành tặng Desailly, và kim đồng hồ còn chưa chỉ qua phút 60.
    Milan khép lại mùa giải tuyệt diệu bằng chiến thắng 4 sao, một hiện tượng kỳ thú. Đội chưa từng ghi quá 2 bàn/trận trong 9 tháng. Lễ ăn mừng kéo dài tới 4 giờ sáng, với Capello và Galliani là những người duy nhất còn tỉnh táo.
    6 giờ sáng, cả đội về khách sạn. Trong thang máy, Capello rỉ tai Galliani ông trót làm mất chiếc Cúp bạc danh giá. Galliani mặt cắt không còn giọt máu. Ông hốt hoảng chạy tới quầy bar khách sạn hỏi tìm. Rồi là từng ngóc ngách trong khách sạn. Vẫn không thấy đâu.
    May mắn, một người dọn phòng thông báo chiếc Cúp được cất trong tủ giữ đồ thất lạc của khách sạn. Galliani thở phào, quay về phòng ngủ. Hơi khác một chút, ông không tận hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cùng vợ.
    Trong căn hộ cao cấp gồm 2 giường ngủ thửa riêng cho cấp lãnh đạo, Galliani, bằng cách nào đó, đã ngả lưng xuống chiếc giường còn lại. “Tôi không chắc chuyện gì xảy ra, nhưng khi thức dậy đã thấy mình nằm đối diện vợ trên cái giường còn lại. Tay ôm chặt chiếc Cúp”, trích lời kể của Galliani.

    GÓC AC MILAN

    HLV Fabio Capello CHỌN CÁCH “HÈN HẠ” ĐỂ ĐI TỚI VINH QUANG

    DAVID NGUYEN  |  at  9:05:00 PM

    Trước mùa giải huyền diệu 2003/04 của Arsenal, bóng đá châu Âu từng chứng kiến một sự kiện tương tự, là Scudetto của AC Milan mùa 1993/94. Nhưng những thước phim lịch sử kể về chiến tích vĩ đại ấy lại tuyệt nhiên không hề mang màu sắc sinh động. Fabio Capello đã dập tan hoài nghi về sự thực dụng trong ý đồ chiến thuật của giới cầm quân Italia, đồng thời đẩy sự “tiêu cực” trong bóng đá phòng ngự lên cảnh giới cao nhất.

    ourinho từng nói những chiến thắng đẳng cấp nhất trong bóng đá phải kết thúc với tỷ số 1-0. Thực ra, trước đấy khá lâu, là Capello “phát minh” ra công thức chiến thắng tối thiểu này.
    Mùa 1993/94, Milan vô địch Serie A mà chỉ ghi vỏn vẹn 36 bàn, song cũng để lọt lưới đúng 15 lần. Đội có 9 chiến thắng với tỷ số 1-0 và 22 trận giữ sạch lưới, bao gồm chuỗi 9 trận liên tiếp trên sân nhà giúp Sebastiano Rossi lập kỷ lục 920 phút giữ vững cầu môn.
    Trả lời phỏng vấn tờ La Gazzetta dello Sport, Capello đã khái niệm hóa ý nghĩa của những thắng lợi 1-0: “Có 3 sự thật được rút ra: Milan giành trọn 3 điểm, Milan giữ sạch lưới và Milan chiến đấu vì lý tưởng giữ chắc khung thành. Ngạn ngữ phương Tây đã nói, bạn nấu vang dựa trên những quả nhỏ cuối cùng trong tủ lạnh. Ngon hay dở phụ thuộc vào bếp trưởng”.
    Capello ngày ấy thậm chí còn cực đoan hơn Mourinho bây giờ. Mọi thứ luôn dừng lại ở ngưỡng “vừa đủ” và các cánh cửa tiến vào khung thành hai bên ngay lập tức đóng lại khi Milan vươn lên dẫn trước.
    Sự chính xác tới tuyệt đối của Capello và Milan 1993/94 đe dọa tới sức cống hiến của bóng đá. LĐBĐ Italia FIGC lo sợ nếu Milan cứ tiếp tục chơi bóng như một cỗ máy vô cảm được lập trình tới từng hành vi thế này, khán giả sẽ không tới sân. Cuối cùng, nhân danh “vì bóng đá tấn công”, giới cầm quyền quy định mỗi chiến thắng có giá trị 3 điểm kể từ mùa giải kế tiếp. Mà thực chất, ai cũng hiểu bước đi ấy là động thái nhằm “hạn chế” sức mạnh lan tỏa của Milan.
    Fabio Capello khá kiệm lời. Những cuộc đối thoại trong phòng thay đồ thường diễn ra một chiều. Ông ra lệnh, đưa yêu cầu và buộc cầu thủ đáp ứng. Nếu ai đó không thể làm đúng nguyện vọng của Capello, họ sẽ tự động bị thải loại và nhường chỗ cho một nhân vật khác.
    Trả lời tờ Daily Record, Brian Laudrup tiết lộ cách quản trị của Capello không tồn tại khái niệm tình cảm. Cựu chủ tịch Silvio Berlusconi thì nhanh chóng nhìn thấy đặc tính “không tranh luận” trong hướng tiếp cận vấn đề của Capello. Ông nói, và người khác tuân lệnh.
    Jean-Pierre Papin coi thứ bóng đá Capello xây dựng là buồn tẻ. “Không ai muốn tham gia vào trò chơi của ông ấy nếu có lựa chọn”, Papin nói. Làm việc dưới trướng Capello không khác là bao cuộc sống của những tù nhân. Làm theo chỉ đạo của quản ngục là phương án duy nhất.
    Nhưng Capello dường như không bận tâm các tác động ngoại cảnh. Ông chỉ chú ý tới Scudetto thứ 3 trong sự nghiệp cầm quân của mình. Thành tích 0,44 bàn thua/trận mùa 1993/94 của Milan thực sự là một đỉnh cao của nghệ thuật phòng ngự.
    Suốt chiều dài lịch sử bóng đá, chỉ 4 đội làm tốt hơn Milan của Capello là Milan 1968/69 của Nereo Rocco (0.4), Chelsea 2004/05 của Jose Mourinho(0.395), Liverpool 1978/79 của Bob Paisley (0.381) và Cagliari 1969/70 (0.367). Phải dành những tràng pháo tay cho Capello bởi cuối cùng, ông vẫn mang Cúp về - mục đích sau cuối của bất kể đội bóng nào.
    Từ ngày xỏ giày đá bóng, Capello đã tận dụng cơ hội quý báu hàng tuần để tiếp cận các tư tưởng chiến thuật. Tiền vệ trung tâm mạnh mẽ nhưng không kém phần tinh tế này khởi nghiệp ở Spal và chuyển tới Roma năm 1967. Thật tình cờ, đúng một năm sau, HLV huyền thoại Helenio Herrera về thủ đô (người nâng tầm Catenaccio, giúp Inter vô địch quốc gia 3 lần và C1 châu Âu 2 lần liên tiếp).
    Với cá nhân Capello, Herrera là một thiên tài. Chiến lược gia có biệt danh Il Mago sở hữu trí tuệ đi trước thời đại 10 năm. Trong tự truyện, Capello nhấn mạnh “Ông học Herrera từ kiến thức chuyên môn tới kỹ năng quản trị”.
    Nhà báo Gabriel Marcotti kể lại câu chuyện khiến ông ấn tượng nhất trong quá trình đi theo Capello để chắp bút cho cuốn sách. Đó là kỹ nghệ sử dụng ngôn ngữ của Herrera. Ông luôn nói “Tập theo cách chúng ta chơi trên sân chính”.
    Vào buổi sáng ngay trước giờ bóng lăn, Herrera sẽ tới túm lấy áo học trò và hét vào mặt họ: “Cậu là thằng khỏe nhất. Cậu sẽ ăn thịt bọn chúng cho bữa sáng. Và nếu chẳng may, một cầu thủ tỏ ra uể oải hoặc chạy chậm làm lỡ bài tập toàn đội, anh ta sẽ bị mời về nhà.
    Năm 1970, Capello tới Juventus. Đội vừa bổ nhiệm tân HLV Armando Picchi - người cách đấy không lâu còn là chỉ huy trưởng trong sư đoàn Inter hùng mạnh mà Herrera dẫn dắt. Nhưng căn bệnh quái ác liên quan tới cột sống sớm cướp đi cuộc sống của Picchi. Juve đưa Cest Vycpalek, cậu ruột của Zdenek Zeman từ đội trẻ lên nắm quyền. Ở Turin, Capello giành chiến thắng vào các năm 1972, 1973 và 1975 rồi sau đó cập bến Milan.
    Giống như tình tiết của lần chuyển sang Roma, Capello lại nhanh chóng có cơ hội về chung mái nhà với một huyền thoại Catenaccio khác. Lần này là Rocco, kiến trúc sư của Milan trong kỷ nguyên vàng ở thập niên 1960 của CLB. Điều đó đồng nghĩa, ngay từ khi là cầu thủ, Capello đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai triết lý chiến thuật hàng đầu Italia.
    Niels Liedholm là HLV cuối cùng Capello cộng tác trước ngày giải nghệ. Nhưng có vẻ HLV nổi tiếng với phong cách thư giãn cùng lối trò chuyện mềm mỏng không phải gu của Capello.
    Một lần, Berlusconi thử đề nghị liệu Capello có thể tươi tỉnh hơn mỗi lần đứng chỉ đạo hay không. Câu trả lời ngài thủ tướng thuở nào nhận về là: “Khi làm việc, tôi không có nghĩa vụ đáp ứng bất kể yêu cầu nào, ngoại trừ kết quả”.
    Là con trai của một giáo viên, Capello sớm bộc lọ khả năng lãnh đạo bẩm sinh. Ông dấn thân vào giới huấn luyện và bắt đầu công việc ở hai đội U17, U19 Milan. Capello hạnh phúc với công việc vì nó cho ông cảm giác của người thợ chăm vườn nhìn những mầm cây lớn lên từng ngày.
    1986 là năm bản lề với Capello. Sau sự cố dàn xếp tỷ số Totoreno đẩy Milan vào cảnh nợ nần suốt nhiều năm liền, Berlusconi xuất hiện và bơm nguồn doping tài chính cùng tham vọng đế vương.
    Năm đó, Liedholm là HLV trưởng còn Capello đóng vai trợ lý. Nhưng chiếc phao cứu sinh mà Berlusconi quẳng xuống chưa giúp Milan hồi phục ngay. Đội đã trải qua năm 1986 đầy biến động. Có lần, CĐV quá khích ném gạch vào thẳng cabin huấn luyện, làm vỡ mảng kính áp tai Liedholm.
    Vào tháng 4/1987, sau thất bại ở Coppa Italia trước Parma của Arrigo Sacchi và tiếp đến là một trận thua khác ở Serie B, HLV người Thụy Điển nhận trát sa thải. Capello tạm thời lên nắm quyền.
    Ông nhanh chóng cho thấy sự tàn nhẫn và tính quyết đoán tới độc tài, vốn thừa hưởng bởi Helenio Herrera - HLV đầu tiên áp dụng các biện áp quản trị cứng rắn và đề cao kỷ luật nội bộ. Trong một trận đấu, Capello từng đưa Guiseppe Galderisi vào sân sau giờ nghỉ giữa hiệp và thay anh ta đúng 14 phút sau vì một dụng ý chiến thuật.
    Nhờ “quyền HLV” Capello, Milan có vé đi UEFA Cup. Song Berlusconi bấy giờ vẫn chưa nguôi ngoai ám ảnh để thua Parma của Sacchi. Trên con đường phục hưng Milan, Berlusconi liền mang về Sacchi.
    Sacchi, một cựu tư vấn bán hàng ở shop giày dép, quả thật là một thiên tài. Ông làm cuộc cách mạng bóng đá bằng sơ đồ 4-4-2 tưởng chỉ dành cho những anh chàng thừa sức khỏe, thiếu trí khôn ở Anh. Hệ thống phòng ngự khu vực được giới thiệu và các bài tập chạy chỗ chọn vị trí trở thành nền tảng của mọi cuốn sách giáo khoa sau này. Những diễn viên trực tiếp làm nên đoàn kịch vĩ đại này rặt toàn hào thủ: Marco van Basten, Ruud Gullit, Frank Rijkaard và Carlo Ancelotti. Một thế hệ vàng đích thực.
    Trong khoảng thời gian này, Capello ở đâu? Ông tạm rời ánh đèn sân khấu nhưng không phải để quay về công tác đào tạo trẻ. Tiềm năng của Capello buộc giới điều hành Milan đưa vào ông diện “cơ cấu”. Họ gửi Capello tới khóa học kéo dài 1 năm dành riêng cho những chức vụ quản lý cao cấp ở bất kỳ tập đoàn nào.
    Không nằm ngoài dự đoán, Capello hoàn thành xuất sắc khóa học. Người đàn ông tới từ tỉnh lẻ Gorizia chiếm trọn cảm tình của Berlusconi và ngồi vào ghế giám đốc Polisportiva Milan - trung tâm giám sát nội bộ các đội tuyển bóng chuyền, khúc côn cầu, bóng chày và rugby mang thương hiệu Milan sau khi lần lượt kinh qua các vị trí hành chính nhân sự, tiếp thị và quản lý tài chính.
    Năm 1991, Berlusconi sa thải Sacchi, trao quyền tiếp quản cho Capello. Di sản nhận lại từ người tiền nhiệm là một tập thể gặt hái biết bao thành công, nhưng đang trên đà soái trào. Ngày chia tay, Sacchi gửi lời tạm biệt: “Tôi nghĩ họ là những kẻ vĩ đại nhưng đang ở đoạn cuối của chu kỳ thành công”.
    Sau này, Sacchi phải thừa nhận “Tôi đã sai”. Vì Capello.
    Ngày Capello vào ghế nóng, truyền thông xứ mỳ ống coi ông là con rối trong tay Berlusconi. Ống kính máy quay không mấy khi ghi âm được câu phát biểu nào của Capello và thế là, họ cho rằng Capello tự nhận thức được vai trò và tầm ảnh hưởng của mình. Ông không ở vị trí của kẻ được phép phàn nàn về sự đầu tư nhỏ giọt của Berlusconi, với sự bổ sung đáng kể duy nhất là đưa Demetrio Albertini từ đội trẻ lên thay Ancelotti.
    Đối mặt bao nhiêu khó khăn song Capello vẫn còn đấy Gullit, Basten và bộ tứ hậu vệ có thể xem là ăn ý và hoàn hảo nhất. Họ cùng chia sẻ tình yêu, hiểu biết và văn hóa: Mauro Tassotti - tới Milan từ Lazio vào đầu thập niên 1980 cùng bộ ba cây nhà lá vườn Paolo Maldini, Alessandro Costacurta và Baresi.
    Capello đặc biệt trân trọng “bộ tứ” này bởi bản thân ông cũng hiểu họ chẳng kém gì họ hiểu nhau. Capello đã từng là đồng đội của Baresi, trực tiếp quản lý Maldini và Costacurta ở tuyến trẻ. Thêm nữa, những cầu thủ này đều thuộc diện “con nhà nòi”, thừa hưởng gen bóng đá đỉnh cao của gia đình giàu truyền thống.
    Maldini là con trai của Cesare, trung vệ trứ danh từng cùng Milan giành 4 scudetto và 1 ngôi danh hiệu châu Âu trong thập niên 1960 và 1970 thế kỷ trước. Casare từng làm việc cùng HLV Rocco dưới hai vai trò khác nhau là cầu thủ và trợ lý.
    Một điểm đáng lưu ý khác, là giữa Capello và những biểu tượng chiến thuật Italia còn có giao điểm địa lý. Cesare và Rocco tới từ Trieste, thành phố ven biển nằm sâu ở Đông Bắc Italia. Capello sinh ra ở San Canzian d’Isonzo – cách Trieste chỉ 30 phút lái xe.
    Lợi thế đáng kể nữa của Capello trong kế hoạch xây dựng Milan trên nền tảng bộ tứ vệ là di sản to lớn của Sacchi. Ông ta là con nghiện chiến thuật và có thể lảm nhảm về bóng đá trong mơ. Khối lượng tập luyện Sacchi đề ra đồ sộ tới mức Frank Rijkaard sẵn sàng úp mặt vào bồn cầu để “thỏa mãn” cơn ói mửa. Đổi lại, phương pháp của Sacchi đảm bảo ngay cả khi bị bịt mắt, các cầu thủ vẫn dễ dàng chơi bóng đúng như kỳ vọng của ông.
    “Các buổi tập của Sacchi rất điên rồ”, Maldini chia sẻ trên Daily Mail hồi 2005. Maldini nói tiếp: “Sacchi bắt bạn làm việc chăm chỉ và thâm nhập vào não bộ của bạn. Ông ấy bắt từng người lặp lại một hành động nhiều lần, nhất là các hậu vệ. Ngày qua ngày. Nhưng nếu tôi, Baresi và Tassotti lại có cơ hội đoàn tụ, chúng tôi sẽ chơi thứ bóng đá đỉnh cao của những năm 1990. Vì đó là tiềm thức”.
    Giai đoạn đầu nhận việc, Capello duy trì sơ đồ quen thuộc 4-4-2. Milan ghi tới 74 bàn ngay trong chiến dịch Serie A đầu tiên của Capello. Ngày cuối cùng mùa giải, Milan vùi dập Foggia của Zeman 8-2 không thương tiếc.
    Ở đấu trường châu lục có phần ngược lại. Sự cố xảy ra trong trận tứ kết Cúp châu Âu cách đó 1 năm. Dàn đèn trên sân bất ngờ dừng hoạt động vào đúng khoảng thời gian hiệp phụ khi tỷ số đang là 1-0 nghiêng về Marseille.
    Lực lượng sửa chữa nhanh chóng khắc phục lỗi nhưng Adriano Galliani đã nhanh nhẩu đưa cầu thủ vào phòng thay đồ và từ chối quay trở lại sân với hy vọng gây áp lực buộc UEFA phải tổ chức đá lại. Nhưng UEFA không coi đó là yêu cầu hợp lý nên ra án phạt cấm Milan dự các giải đấu châu lục trong 12 tháng.
    Dù sao, cú đại nhảy vọt của Capello cũng đã tới thời điểm. Berlusconi quyết định tái bạo chi và mở hầu bao vào năm 1992. CLB phá kỷ lục chuyển nhượng bằng bản hợp đồng với Gianluigi Lentini, tậu thêm đương kim QBV châu Âu Papin, gọi lại Zvonimir Boban từ Bari và đánh canh bạc với tiền vệ Dejan Savicevic – nguồn cảm hứng của Sao Đỏ Belgrade trong chiến tích vô địch châu Âu 1991. Những tân binh này hợp cùng bộ 3 người Hà lan bay, tạo thành phòng truyền thống danh giá bậc nhất hành tinh với 5 kỷ niệm chương Ballon d’Or.
    Nhưng câu chuyện thời thế đẩy Capello vào cơn đau đầu. Đạo luật “3 cầu thủ ngoại quốc trên sân cùng lúc” buộc vị HLV này phải đưa ra những lựa chọn nghiệt ngã, dù sự thật là 6 ngôi sao tấn công này ghi cả thảy 65 bàn trong mùa giải 1992/93.
    Vấn đề nhức nhối nhất Capello thật sự cần giải quyết là phòng thủ - điểm tựa Capello tưởng là vững chãi nhất. Ông cố gắng thử nghiệm Rijkaard và Albertini ở vị trí tiền vệ lùi nhưng tinh chỉnh này không giúp đội cải thiện khả năng chống đỡ. Hệ quả là 32 bàn thua.
    Dẫu sao, Milan vẫn bảo vệ thành công Scudetto mùa 1992/93 mà chỉ để thua đúng 2 trận trong cả chiến dịch.
    Ở một diễn biến khác, vết đau ở mắt cá chân của Van Basten tái phát. Tiền đạo người Hà Lan được dự báo phải ngồi ngoài vài tháng, đúng vào lúc Milan hết án phạt và quay trở lại sân chơi C1 dưới tên gọi mới là Champions League.
    Trong cả chiến dịch, Milan đã thể hiện bộ mặt lầm lỳ đáng sợ. Cả vòng bảng, đội thủng lưới duy nhất 1 bàn sau 6 trận. Nghiệt ngã ở chỗ trước ngưỡng cửa thiên đường, Milan lại để Marseille – đội cửa dưới của trận chung kết đánh bại 1-0.
    Những thống kê lúc này không còn nhiều ý nghĩa. Capello luôn ngờ ngợ có gì đó không ổn ở hàng thủ.
    Bây giờ là mùa giải 1993/94 – “nhân vật chính” trong bài viết của chúng ta hôm nay. Capello hướng tới ngai vàng lần thứ 3 liên tiếp. Chuyến tàu tới Milan đón thêm ba vị hành khách là Laudrup, Panucci và Raducioiu. Ở chiều ngược lại, những người rời đi là Rijkaard (về Ajax) và Gullit (cho Sampdoria mượn).
    Quyết định loại Gullit của Capello gây nhiều tranh cãi. Tất nhiên là ông đủ tự tin và hiểu biết khi đưa ra phán xét. Cho tới khi các tác động ngoại cảnh ồ ạt ập tới.
    Papin liên tục làm bạn với giường bệnh. Marco Simeone mình mẩy đòi ra đi. Savicevic trở thành bóng ma đúng nghĩa trên mặt trận chuyên môn nhưng Capello chẳng thể kỷ luật anh này vì sự ưu ái cá nhân của ông chủ Berlusconi.
    Đỉnh điểm là tháng 8/1993, Lentini mất lái khi đang điều khiển siêu xe Porsche. Chiếc xe văng khỏi đường, trượt thẳng xuống một con mương và phát nổ. Lentini nứt hộp sọ, trải qua hai ngày hôn mê. Ở tuổi 24, Lentini còn đủ may mắn phục hồi thể trạng, nhưng vĩnh viễn đánh mất đi tài năng bóng đá xưa kia.
    Tình trạng của Van Basten không mấy khá khẩm. Mắt cá chân của Basten ngày càng tệ hơn sau khi Capello liều lĩnh sử dụng anh trong trận chung kết gặp Marseille cách đó mấy tháng. Giải nghệ là kết cục không thể khác. Ở tuổi 28, Van Basten nói lời chào tạm biệt San Siro.
    Mất mát này vượt qua khuôn khổ của một trận bóng đá. Sacchi vĩ đại là thế mà vẫn bị Berlusconi tống cổ chỉ vì mối quan hệ bất hòa với Van Basten. Tờ FourFourTwo từng tiết lộ thông tin một fan hâm mộ nhiệt thành của Milan, Paolo Simonetti, sẵn sàng hiến tặng phần sụn của mình để các bác sỹ có thể chữa lành vết thương mãn tính của Van Basten.
    Galliani ví Van Basten như Leonardo da Vinci toàn năng. Ngày Van Basten giải nghệ, Capello ngồi bất động trong cabin huấn luyện, còn nước mắt cứ thế rơi.
    Cứu cánh cuối cùng của Capello là chân sút kỳ cựu Daniele Massaro, người đạt hiệu suất… 5 bàn ở mùa trước đấy. Kiểu tiền đạo như thế chưa bao giờ đạt hệ số an toàn đảm bảo cho tham vọng Scudetto.
    Milan khởi đầu mùa giải bằng thắng lợi 1-0 trước Torino ở trận siêu Cúp Italia. Nhưng bài thử nghiệm thật sự cho một “phong cách mới tinh” chỉ thật sự diễn ra ở Serie A.
    7 vòng đầu tiên có kết quả lần lượt là 1-0, 1-0, 0-0, 2-0, 2-0, 2-0, 0-0. Hai lượt tiếp theo là các kết quả hòa trước Foggia và Juve. Những dự cảm bất an dần len lỏi và hóa ra, Milan đúng là không ổn chút nào. Họ thua ngược Sampdoria 2-3 dù đã dẫn trước 2 bàn trong hiệp 1. Người ấn định tỷ số trận đấu, thật trớ trêu, là Gullit.
    Thảm họa là kịch bản in sẵn trong đầu Capello khi ông đón thêm hung tin. Boban, người thay thế Rijkaard, nghỉ thi đấu 3 tháng vì chấn thương. Bổ sung lực lương là nhiệm vụ bất khả thi bởi thị trường chuyển nhượng sẽ đóng cửa sau đây 2 ngày. Milan cũng đã khóa sổ tài chính.
    Capello tìm gặp Galliani. Bộ đôi thống nhất bí mật liên lạc Marseille và đưa Marcel Desailly về. Đây chưa phải chi tiết bất bình thường duy nhất trong thương vụ này.
    Milan, trong suốt thời gian trước đó, không coi trung vệ người Pháp là mục tiêu cần lưu tâm. GĐKT Ariedo Braida có tới Pháp do thám nhưng là để soi giò Boksic, đồng đội của Desailly. Là may mắn hay là định mệnh, nhưng trận đấu ấy là màn trình diễn xuất sắc nhất mùa giải của Desailly.
    Có Desailly, Capello suy nghĩ nghiêm túc về đất diễn của tân binh. Desailly sẽ trám vào chỗ trống Boban bỏ lại. Khi cần, một tiền đạo sẽ lùi về giữa sân và kiến tạo sơ đồ 4-1-4-1.
    Điều chỉnh của Capello như cái tát vào khối kiến trúc Sacchi hằng công xây dựng bao năm nay. Nhưng tính hiệu quả của nó là khỏi phải bàn. Để một trung vệ lên chơi tiền vệ chỉ rõ ý đồ tiếp cận trận đấu quyết liệt và chặt chẽ hơn.
    Sự hiện diện của “hộ pháp” Desailly đảm bảo Costacurta và Baresi không rơi vào trạng thái mất phương hướng. Silvano Ramaccioni chia sẻ với nhà báo Marcotti: “Desailly là máy quét trước hàng thủ. Nghĩa là, một khối lượng lớn công việc phòng ngự đã được Desailly đảm nhận và áp lực lên vai tứ vệ vô tình biến mất”.
    Capello không giao đích danh phần việc cụ thể nào cho Desailly. Ông chỉ đơn thuần là yêu cầu Desailly đoạt lại bóng trong các tình huống tranh chấp. Hoặc thậm chí, việc Desailly án ngữ trước bức tường bảo vệ đã là một cú hích với trận địa phòng thủ. Đối phương tự động dạt biên và gián tiếp giúp Milan chủ động thi triển kế hoạch phòng ngự vì chẳng ai muốn đối đầu với Desailly.
    Hàng thủ 1993/94 của Milan định hình từ ấy. Cộng thêm phương pháp huấn luyện qua băng hình nhằm phát hiện sai số của Capello, Milan đưa bóng đá về trạng thái đóng băng với tất cả, ngoại trừ họ.
    Cuộc đời có lúc này lúc kia. Bóng đá cũng vậy. Đâu phải lúc nào, điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. Tháng 02/1994, Milan thua Parma ở trận siêu Cúp châu Âu. Ở Serie A, đội thua liền hai vòng 29 & 30 sau khi đã thắng liền 9 trận trước đó. 7 trận liền kề, đội không thắng: Hòa 5 và thua 2.
    Vậy nhưng, những kẻ mừng thầm trong lòng không có dịp để cười nhạo Capello. Ông hầu như không mở miệng hay nhoẻn một nụ cười gượng ép nào. Mắt là bộ phận cơ thể Capello sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp hàng ngày. Tự cầu thủ, từng người một, nhìn vào Capello và hiểu nhiệm vụ của họ.
    Rất nhiều người tỏ thái độ không hài lòng vì… thái độ của Capello. Tuy nhiên, đừng mong nhận về sự an ủi hay vỗ về của Capello. Ông cố tình tạo ra những tình huống bắt cầu thủ phải đối mặt với chuyện này. Boban nói trên BBC bạn không bao giờ biết rõ Capello đang tức giận hay là ông ta chờ đợi sự phản bác của cầu thủ.
    Capello âm thầm, dền dứ kích động bầu không khí bởi ông muốn chạm vào tận cùng lòng tự trọng của các học trò. Để rồi, mọi người đều bung hết nội lực sau quá nhiều ngày bị tổn thương. Hưởng lợi nhiều nhất, chắc chắn là tập thể.
    Cũng thật viển vông nếu muốn nghe lời xin lỗi từ miệng Capello. Không cấm đoán những lời động viên tếu táo nhưng trong giờ làm việc của Capello, tuyệt đối không tồn tại sự cợt nhả hay quá trớn.
    Trên FourFourTwo, Capello nói: “Mọi người kêu có vấn đề với vợ, với con cái, với gia đình. Vâng, sự thật là ai cũng trải qua những khó khăn điển hình của cuộc sống ấy. Thế tôi hỏi, chúng ta đang ở đâu? Tới văn phòng là để làm việc, như thế mới đúng mục đích sử dụng văn phòng. Tôi cần cầu thủ của mình làm việc quần quật, hoàn thành bài tập tôi giao cho họ. Lắng nghe và hành động, nói ít thôi”.
    Chiến lược ấy phát huy tác dụng. Nếu không vì lối chơi phòng ngự cực đoan nhưng dựa trên nền móng khoa học ấy, Capello chắc chắn không bao giờ hoàn tất cú hat-trick Scudetto - kỳ tích đã không lặp lại kể từ cú ăn ba liên tiếp của Torino trong thập niên 1940.
    Không phải ai cũng dám nhìn vào sự thật này. Điển hình là Barca, đối thủ của Milan trong trận chung kết Champions League cùng năm. Báo chí Tây Ban Nha gọi Milan là kẻ cổ động giá trị xấu mang tên catenaccio. Nếu Barca dùng tiền tậu Romario tài hoa thì Milan đưa về đồ tể Desailly. Đến cả “thánh” Cruyff còn khẳng định “Milan chẳng là gì ở thế giới này”.
    Ở khía cạnh nào đó, có thể đồng cảm với suy nghĩ đó. Vì quả thật, Milan của Capello quá xấu xí, xù xì và thô ráp. Song trên hết, đó là tập thể bách chiến bách thắng, là mô hình tiêu biểu cho bất kỳ đế chế trị vì nào. Mặc cho cảm giác của những thắng lợi ấy mang lại chẳng “cao cấp” chút nào, thậm chí còn có phần hạ đẳng.
    Xin kể thêm một ví dụ về sự thông thái của Capello. Như đã biết, giữa Capello và Savicevic tồn tại mâu thuẫn. Trước chuyến bay sang Nhật Bản dự Cúp liên lục địa, Capello hay tin Savicevic có khả năng không đủ điều kiện ra sân vì nhận một án phạt từ FIFA trong lần quay về phục vụ nghĩa vụ quốc gia trước đấy ít lâu.
    Suất chơi đăng ký cho Savicevic chuyển nhượng sang Raducioiu, “sao xịt” của Milan. Tuyển thủ Romania nhận lời hứa danh dự của Capello rằng anh chắc chắn sẽ được trao cơ hội thi đấu.
    Từ FIFA, người ta phát đi thông báo Savicevic đủ điều kiện đi Nhật. Capello, như thói quen, không thỏa hiệp. Ông bỏ mặc Savicevic, cho Raducioiu vào sân và Milan đá trong tâm thế “chấp người”.
    Đến đây, sự nghiệp của Savicevic ở kinh đô thời trang coi như tiêu tàn. Capello đã đăng đàn chê bai thậm tệ tác phong của Savicevic: “Cậu ta tập tành gì đâu. Cho vào đá thì người khác phải nhân đôi cường độ bù vào à?”.
    Nhưng Capello không “ngu ngốc” như thế. Ông thừa trình độ để có cảm nhận tối thiểu, Savicevic – nhà vô địch châu Âu 1991 – không phải dạng vừa. Đêm Athens định mệnh, Capello bất ngờ điền tên Savicevic vào đội hình xuất phát.
    Và Sav đã chơi trận đấu cuộc đời. Anh kiến tạo cho Massaro mở tỷ số và trực tiếp nâng tỷ số lên 3-0 bằng cú lốp bóng đẳng cấp. Bàn thứ 4 dành tặng Desailly, và kim đồng hồ còn chưa chỉ qua phút 60.
    Milan khép lại mùa giải tuyệt diệu bằng chiến thắng 4 sao, một hiện tượng kỳ thú. Đội chưa từng ghi quá 2 bàn/trận trong 9 tháng. Lễ ăn mừng kéo dài tới 4 giờ sáng, với Capello và Galliani là những người duy nhất còn tỉnh táo.
    6 giờ sáng, cả đội về khách sạn. Trong thang máy, Capello rỉ tai Galliani ông trót làm mất chiếc Cúp bạc danh giá. Galliani mặt cắt không còn giọt máu. Ông hốt hoảng chạy tới quầy bar khách sạn hỏi tìm. Rồi là từng ngóc ngách trong khách sạn. Vẫn không thấy đâu.
    May mắn, một người dọn phòng thông báo chiếc Cúp được cất trong tủ giữ đồ thất lạc của khách sạn. Galliani thở phào, quay về phòng ngủ. Hơi khác một chút, ông không tận hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cùng vợ.
    Trong căn hộ cao cấp gồm 2 giường ngủ thửa riêng cho cấp lãnh đạo, Galliani, bằng cách nào đó, đã ngả lưng xuống chiếc giường còn lại. “Tôi không chắc chuyện gì xảy ra, nhưng khi thức dậy đã thấy mình nằm đối diện vợ trên cái giường còn lại. Tay ôm chặt chiếc Cúp”, trích lời kể của Galliani.

    General

    Liên hệ . tien3939@gmail.com ..