365BongDa.net Xem dự đoán kèo Find out
  • KIẾM TIỀN CHỈ TRONG 90 MINUTES

  • Tuyệt chiêu

  • Neteller

  • kinh nghiệm

  • Latest

    Trước mùa giải huyền diệu 2003/04 của Arsenal, bóng đá châu Âu từng chứng kiến một sự kiện tương tự, là Scudetto của AC Milan mùa 1993/94. Nhưng những thước phim lịch sử kể về chiến tích vĩ đại ấy lại tuyệt nhiên không hề mang màu sắc sinh động. Fabio Capello đã dập tan hoài nghi về sự thực dụng trong ý đồ chiến thuật của giới cầm quân Italia, đồng thời đẩy sự “tiêu cực” trong bóng đá phòng ngự lên cảnh giới cao nhất.

    ourinho từng nói những chiến thắng đẳng cấp nhất trong bóng đá phải kết thúc với tỷ số 1-0. Thực ra, trước đấy khá lâu, là Capello “phát minh” ra công thức chiến thắng tối thiểu này.
    Mùa 1993/94, Milan vô địch Serie A mà chỉ ghi vỏn vẹn 36 bàn, song cũng để lọt lưới đúng 15 lần. Đội có 9 chiến thắng với tỷ số 1-0 và 22 trận giữ sạch lưới, bao gồm chuỗi 9 trận liên tiếp trên sân nhà giúp Sebastiano Rossi lập kỷ lục 920 phút giữ vững cầu môn.
    Trả lời phỏng vấn tờ La Gazzetta dello Sport, Capello đã khái niệm hóa ý nghĩa của những thắng lợi 1-0: “Có 3 sự thật được rút ra: Milan giành trọn 3 điểm, Milan giữ sạch lưới và Milan chiến đấu vì lý tưởng giữ chắc khung thành. Ngạn ngữ phương Tây đã nói, bạn nấu vang dựa trên những quả nhỏ cuối cùng trong tủ lạnh. Ngon hay dở phụ thuộc vào bếp trưởng”.
    Capello ngày ấy thậm chí còn cực đoan hơn Mourinho bây giờ. Mọi thứ luôn dừng lại ở ngưỡng “vừa đủ” và các cánh cửa tiến vào khung thành hai bên ngay lập tức đóng lại khi Milan vươn lên dẫn trước.
    Sự chính xác tới tuyệt đối của Capello và Milan 1993/94 đe dọa tới sức cống hiến của bóng đá. LĐBĐ Italia FIGC lo sợ nếu Milan cứ tiếp tục chơi bóng như một cỗ máy vô cảm được lập trình tới từng hành vi thế này, khán giả sẽ không tới sân. Cuối cùng, nhân danh “vì bóng đá tấn công”, giới cầm quyền quy định mỗi chiến thắng có giá trị 3 điểm kể từ mùa giải kế tiếp. Mà thực chất, ai cũng hiểu bước đi ấy là động thái nhằm “hạn chế” sức mạnh lan tỏa của Milan.
    Fabio Capello khá kiệm lời. Những cuộc đối thoại trong phòng thay đồ thường diễn ra một chiều. Ông ra lệnh, đưa yêu cầu và buộc cầu thủ đáp ứng. Nếu ai đó không thể làm đúng nguyện vọng của Capello, họ sẽ tự động bị thải loại và nhường chỗ cho một nhân vật khác.
    Trả lời tờ Daily Record, Brian Laudrup tiết lộ cách quản trị của Capello không tồn tại khái niệm tình cảm. Cựu chủ tịch Silvio Berlusconi thì nhanh chóng nhìn thấy đặc tính “không tranh luận” trong hướng tiếp cận vấn đề của Capello. Ông nói, và người khác tuân lệnh.
    Jean-Pierre Papin coi thứ bóng đá Capello xây dựng là buồn tẻ. “Không ai muốn tham gia vào trò chơi của ông ấy nếu có lựa chọn”, Papin nói. Làm việc dưới trướng Capello không khác là bao cuộc sống của những tù nhân. Làm theo chỉ đạo của quản ngục là phương án duy nhất.
    Nhưng Capello dường như không bận tâm các tác động ngoại cảnh. Ông chỉ chú ý tới Scudetto thứ 3 trong sự nghiệp cầm quân của mình. Thành tích 0,44 bàn thua/trận mùa 1993/94 của Milan thực sự là một đỉnh cao của nghệ thuật phòng ngự.
    Suốt chiều dài lịch sử bóng đá, chỉ 4 đội làm tốt hơn Milan của Capello là Milan 1968/69 của Nereo Rocco (0.4), Chelsea 2004/05 của Jose Mourinho(0.395), Liverpool 1978/79 của Bob Paisley (0.381) và Cagliari 1969/70 (0.367). Phải dành những tràng pháo tay cho Capello bởi cuối cùng, ông vẫn mang Cúp về - mục đích sau cuối của bất kể đội bóng nào.
    Từ ngày xỏ giày đá bóng, Capello đã tận dụng cơ hội quý báu hàng tuần để tiếp cận các tư tưởng chiến thuật. Tiền vệ trung tâm mạnh mẽ nhưng không kém phần tinh tế này khởi nghiệp ở Spal và chuyển tới Roma năm 1967. Thật tình cờ, đúng một năm sau, HLV huyền thoại Helenio Herrera về thủ đô (người nâng tầm Catenaccio, giúp Inter vô địch quốc gia 3 lần và C1 châu Âu 2 lần liên tiếp).
    Với cá nhân Capello, Herrera là một thiên tài. Chiến lược gia có biệt danh Il Mago sở hữu trí tuệ đi trước thời đại 10 năm. Trong tự truyện, Capello nhấn mạnh “Ông học Herrera từ kiến thức chuyên môn tới kỹ năng quản trị”.
    Nhà báo Gabriel Marcotti kể lại câu chuyện khiến ông ấn tượng nhất trong quá trình đi theo Capello để chắp bút cho cuốn sách. Đó là kỹ nghệ sử dụng ngôn ngữ của Herrera. Ông luôn nói “Tập theo cách chúng ta chơi trên sân chính”.
    Vào buổi sáng ngay trước giờ bóng lăn, Herrera sẽ tới túm lấy áo học trò và hét vào mặt họ: “Cậu là thằng khỏe nhất. Cậu sẽ ăn thịt bọn chúng cho bữa sáng. Và nếu chẳng may, một cầu thủ tỏ ra uể oải hoặc chạy chậm làm lỡ bài tập toàn đội, anh ta sẽ bị mời về nhà.
    Năm 1970, Capello tới Juventus. Đội vừa bổ nhiệm tân HLV Armando Picchi - người cách đấy không lâu còn là chỉ huy trưởng trong sư đoàn Inter hùng mạnh mà Herrera dẫn dắt. Nhưng căn bệnh quái ác liên quan tới cột sống sớm cướp đi cuộc sống của Picchi. Juve đưa Cest Vycpalek, cậu ruột của Zdenek Zeman từ đội trẻ lên nắm quyền. Ở Turin, Capello giành chiến thắng vào các năm 1972, 1973 và 1975 rồi sau đó cập bến Milan.
    Giống như tình tiết của lần chuyển sang Roma, Capello lại nhanh chóng có cơ hội về chung mái nhà với một huyền thoại Catenaccio khác. Lần này là Rocco, kiến trúc sư của Milan trong kỷ nguyên vàng ở thập niên 1960 của CLB. Điều đó đồng nghĩa, ngay từ khi là cầu thủ, Capello đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai triết lý chiến thuật hàng đầu Italia.
    Niels Liedholm là HLV cuối cùng Capello cộng tác trước ngày giải nghệ. Nhưng có vẻ HLV nổi tiếng với phong cách thư giãn cùng lối trò chuyện mềm mỏng không phải gu của Capello.
    Một lần, Berlusconi thử đề nghị liệu Capello có thể tươi tỉnh hơn mỗi lần đứng chỉ đạo hay không. Câu trả lời ngài thủ tướng thuở nào nhận về là: “Khi làm việc, tôi không có nghĩa vụ đáp ứng bất kể yêu cầu nào, ngoại trừ kết quả”.
    Là con trai của một giáo viên, Capello sớm bộc lọ khả năng lãnh đạo bẩm sinh. Ông dấn thân vào giới huấn luyện và bắt đầu công việc ở hai đội U17, U19 Milan. Capello hạnh phúc với công việc vì nó cho ông cảm giác của người thợ chăm vườn nhìn những mầm cây lớn lên từng ngày.
    1986 là năm bản lề với Capello. Sau sự cố dàn xếp tỷ số Totoreno đẩy Milan vào cảnh nợ nần suốt nhiều năm liền, Berlusconi xuất hiện và bơm nguồn doping tài chính cùng tham vọng đế vương.
    Năm đó, Liedholm là HLV trưởng còn Capello đóng vai trợ lý. Nhưng chiếc phao cứu sinh mà Berlusconi quẳng xuống chưa giúp Milan hồi phục ngay. Đội đã trải qua năm 1986 đầy biến động. Có lần, CĐV quá khích ném gạch vào thẳng cabin huấn luyện, làm vỡ mảng kính áp tai Liedholm.
    Vào tháng 4/1987, sau thất bại ở Coppa Italia trước Parma của Arrigo Sacchi và tiếp đến là một trận thua khác ở Serie B, HLV người Thụy Điển nhận trát sa thải. Capello tạm thời lên nắm quyền.
    Ông nhanh chóng cho thấy sự tàn nhẫn và tính quyết đoán tới độc tài, vốn thừa hưởng bởi Helenio Herrera - HLV đầu tiên áp dụng các biện áp quản trị cứng rắn và đề cao kỷ luật nội bộ. Trong một trận đấu, Capello từng đưa Guiseppe Galderisi vào sân sau giờ nghỉ giữa hiệp và thay anh ta đúng 14 phút sau vì một dụng ý chiến thuật.
    Nhờ “quyền HLV” Capello, Milan có vé đi UEFA Cup. Song Berlusconi bấy giờ vẫn chưa nguôi ngoai ám ảnh để thua Parma của Sacchi. Trên con đường phục hưng Milan, Berlusconi liền mang về Sacchi.
    Sacchi, một cựu tư vấn bán hàng ở shop giày dép, quả thật là một thiên tài. Ông làm cuộc cách mạng bóng đá bằng sơ đồ 4-4-2 tưởng chỉ dành cho những anh chàng thừa sức khỏe, thiếu trí khôn ở Anh. Hệ thống phòng ngự khu vực được giới thiệu và các bài tập chạy chỗ chọn vị trí trở thành nền tảng của mọi cuốn sách giáo khoa sau này. Những diễn viên trực tiếp làm nên đoàn kịch vĩ đại này rặt toàn hào thủ: Marco van Basten, Ruud Gullit, Frank Rijkaard và Carlo Ancelotti. Một thế hệ vàng đích thực.
    Trong khoảng thời gian này, Capello ở đâu? Ông tạm rời ánh đèn sân khấu nhưng không phải để quay về công tác đào tạo trẻ. Tiềm năng của Capello buộc giới điều hành Milan đưa vào ông diện “cơ cấu”. Họ gửi Capello tới khóa học kéo dài 1 năm dành riêng cho những chức vụ quản lý cao cấp ở bất kỳ tập đoàn nào.
    Không nằm ngoài dự đoán, Capello hoàn thành xuất sắc khóa học. Người đàn ông tới từ tỉnh lẻ Gorizia chiếm trọn cảm tình của Berlusconi và ngồi vào ghế giám đốc Polisportiva Milan - trung tâm giám sát nội bộ các đội tuyển bóng chuyền, khúc côn cầu, bóng chày và rugby mang thương hiệu Milan sau khi lần lượt kinh qua các vị trí hành chính nhân sự, tiếp thị và quản lý tài chính.
    Năm 1991, Berlusconi sa thải Sacchi, trao quyền tiếp quản cho Capello. Di sản nhận lại từ người tiền nhiệm là một tập thể gặt hái biết bao thành công, nhưng đang trên đà soái trào. Ngày chia tay, Sacchi gửi lời tạm biệt: “Tôi nghĩ họ là những kẻ vĩ đại nhưng đang ở đoạn cuối của chu kỳ thành công”.
    Sau này, Sacchi phải thừa nhận “Tôi đã sai”. Vì Capello.
    Ngày Capello vào ghế nóng, truyền thông xứ mỳ ống coi ông là con rối trong tay Berlusconi. Ống kính máy quay không mấy khi ghi âm được câu phát biểu nào của Capello và thế là, họ cho rằng Capello tự nhận thức được vai trò và tầm ảnh hưởng của mình. Ông không ở vị trí của kẻ được phép phàn nàn về sự đầu tư nhỏ giọt của Berlusconi, với sự bổ sung đáng kể duy nhất là đưa Demetrio Albertini từ đội trẻ lên thay Ancelotti.
    Đối mặt bao nhiêu khó khăn song Capello vẫn còn đấy Gullit, Basten và bộ tứ hậu vệ có thể xem là ăn ý và hoàn hảo nhất. Họ cùng chia sẻ tình yêu, hiểu biết và văn hóa: Mauro Tassotti - tới Milan từ Lazio vào đầu thập niên 1980 cùng bộ ba cây nhà lá vườn Paolo Maldini, Alessandro Costacurta và Baresi.
    Capello đặc biệt trân trọng “bộ tứ” này bởi bản thân ông cũng hiểu họ chẳng kém gì họ hiểu nhau. Capello đã từng là đồng đội của Baresi, trực tiếp quản lý Maldini và Costacurta ở tuyến trẻ. Thêm nữa, những cầu thủ này đều thuộc diện “con nhà nòi”, thừa hưởng gen bóng đá đỉnh cao của gia đình giàu truyền thống.
    Maldini là con trai của Cesare, trung vệ trứ danh từng cùng Milan giành 4 scudetto và 1 ngôi danh hiệu châu Âu trong thập niên 1960 và 1970 thế kỷ trước. Casare từng làm việc cùng HLV Rocco dưới hai vai trò khác nhau là cầu thủ và trợ lý.
    Một điểm đáng lưu ý khác, là giữa Capello và những biểu tượng chiến thuật Italia còn có giao điểm địa lý. Cesare và Rocco tới từ Trieste, thành phố ven biển nằm sâu ở Đông Bắc Italia. Capello sinh ra ở San Canzian d’Isonzo – cách Trieste chỉ 30 phút lái xe.
    Lợi thế đáng kể nữa của Capello trong kế hoạch xây dựng Milan trên nền tảng bộ tứ vệ là di sản to lớn của Sacchi. Ông ta là con nghiện chiến thuật và có thể lảm nhảm về bóng đá trong mơ. Khối lượng tập luyện Sacchi đề ra đồ sộ tới mức Frank Rijkaard sẵn sàng úp mặt vào bồn cầu để “thỏa mãn” cơn ói mửa. Đổi lại, phương pháp của Sacchi đảm bảo ngay cả khi bị bịt mắt, các cầu thủ vẫn dễ dàng chơi bóng đúng như kỳ vọng của ông.
    “Các buổi tập của Sacchi rất điên rồ”, Maldini chia sẻ trên Daily Mail hồi 2005. Maldini nói tiếp: “Sacchi bắt bạn làm việc chăm chỉ và thâm nhập vào não bộ của bạn. Ông ấy bắt từng người lặp lại một hành động nhiều lần, nhất là các hậu vệ. Ngày qua ngày. Nhưng nếu tôi, Baresi và Tassotti lại có cơ hội đoàn tụ, chúng tôi sẽ chơi thứ bóng đá đỉnh cao của những năm 1990. Vì đó là tiềm thức”.
    Giai đoạn đầu nhận việc, Capello duy trì sơ đồ quen thuộc 4-4-2. Milan ghi tới 74 bàn ngay trong chiến dịch Serie A đầu tiên của Capello. Ngày cuối cùng mùa giải, Milan vùi dập Foggia của Zeman 8-2 không thương tiếc.
    Ở đấu trường châu lục có phần ngược lại. Sự cố xảy ra trong trận tứ kết Cúp châu Âu cách đó 1 năm. Dàn đèn trên sân bất ngờ dừng hoạt động vào đúng khoảng thời gian hiệp phụ khi tỷ số đang là 1-0 nghiêng về Marseille.
    Lực lượng sửa chữa nhanh chóng khắc phục lỗi nhưng Adriano Galliani đã nhanh nhẩu đưa cầu thủ vào phòng thay đồ và từ chối quay trở lại sân với hy vọng gây áp lực buộc UEFA phải tổ chức đá lại. Nhưng UEFA không coi đó là yêu cầu hợp lý nên ra án phạt cấm Milan dự các giải đấu châu lục trong 12 tháng.
    Dù sao, cú đại nhảy vọt của Capello cũng đã tới thời điểm. Berlusconi quyết định tái bạo chi và mở hầu bao vào năm 1992. CLB phá kỷ lục chuyển nhượng bằng bản hợp đồng với Gianluigi Lentini, tậu thêm đương kim QBV châu Âu Papin, gọi lại Zvonimir Boban từ Bari và đánh canh bạc với tiền vệ Dejan Savicevic – nguồn cảm hứng của Sao Đỏ Belgrade trong chiến tích vô địch châu Âu 1991. Những tân binh này hợp cùng bộ 3 người Hà lan bay, tạo thành phòng truyền thống danh giá bậc nhất hành tinh với 5 kỷ niệm chương Ballon d’Or.
    Nhưng câu chuyện thời thế đẩy Capello vào cơn đau đầu. Đạo luật “3 cầu thủ ngoại quốc trên sân cùng lúc” buộc vị HLV này phải đưa ra những lựa chọn nghiệt ngã, dù sự thật là 6 ngôi sao tấn công này ghi cả thảy 65 bàn trong mùa giải 1992/93.
    Vấn đề nhức nhối nhất Capello thật sự cần giải quyết là phòng thủ - điểm tựa Capello tưởng là vững chãi nhất. Ông cố gắng thử nghiệm Rijkaard và Albertini ở vị trí tiền vệ lùi nhưng tinh chỉnh này không giúp đội cải thiện khả năng chống đỡ. Hệ quả là 32 bàn thua.
    Dẫu sao, Milan vẫn bảo vệ thành công Scudetto mùa 1992/93 mà chỉ để thua đúng 2 trận trong cả chiến dịch.
    Ở một diễn biến khác, vết đau ở mắt cá chân của Van Basten tái phát. Tiền đạo người Hà Lan được dự báo phải ngồi ngoài vài tháng, đúng vào lúc Milan hết án phạt và quay trở lại sân chơi C1 dưới tên gọi mới là Champions League.
    Trong cả chiến dịch, Milan đã thể hiện bộ mặt lầm lỳ đáng sợ. Cả vòng bảng, đội thủng lưới duy nhất 1 bàn sau 6 trận. Nghiệt ngã ở chỗ trước ngưỡng cửa thiên đường, Milan lại để Marseille – đội cửa dưới của trận chung kết đánh bại 1-0.
    Những thống kê lúc này không còn nhiều ý nghĩa. Capello luôn ngờ ngợ có gì đó không ổn ở hàng thủ.
    Bây giờ là mùa giải 1993/94 – “nhân vật chính” trong bài viết của chúng ta hôm nay. Capello hướng tới ngai vàng lần thứ 3 liên tiếp. Chuyến tàu tới Milan đón thêm ba vị hành khách là Laudrup, Panucci và Raducioiu. Ở chiều ngược lại, những người rời đi là Rijkaard (về Ajax) và Gullit (cho Sampdoria mượn).
    Quyết định loại Gullit của Capello gây nhiều tranh cãi. Tất nhiên là ông đủ tự tin và hiểu biết khi đưa ra phán xét. Cho tới khi các tác động ngoại cảnh ồ ạt ập tới.
    Papin liên tục làm bạn với giường bệnh. Marco Simeone mình mẩy đòi ra đi. Savicevic trở thành bóng ma đúng nghĩa trên mặt trận chuyên môn nhưng Capello chẳng thể kỷ luật anh này vì sự ưu ái cá nhân của ông chủ Berlusconi.
    Đỉnh điểm là tháng 8/1993, Lentini mất lái khi đang điều khiển siêu xe Porsche. Chiếc xe văng khỏi đường, trượt thẳng xuống một con mương và phát nổ. Lentini nứt hộp sọ, trải qua hai ngày hôn mê. Ở tuổi 24, Lentini còn đủ may mắn phục hồi thể trạng, nhưng vĩnh viễn đánh mất đi tài năng bóng đá xưa kia.
    Tình trạng của Van Basten không mấy khá khẩm. Mắt cá chân của Basten ngày càng tệ hơn sau khi Capello liều lĩnh sử dụng anh trong trận chung kết gặp Marseille cách đó mấy tháng. Giải nghệ là kết cục không thể khác. Ở tuổi 28, Van Basten nói lời chào tạm biệt San Siro.
    Mất mát này vượt qua khuôn khổ của một trận bóng đá. Sacchi vĩ đại là thế mà vẫn bị Berlusconi tống cổ chỉ vì mối quan hệ bất hòa với Van Basten. Tờ FourFourTwo từng tiết lộ thông tin một fan hâm mộ nhiệt thành của Milan, Paolo Simonetti, sẵn sàng hiến tặng phần sụn của mình để các bác sỹ có thể chữa lành vết thương mãn tính của Van Basten.
    Galliani ví Van Basten như Leonardo da Vinci toàn năng. Ngày Van Basten giải nghệ, Capello ngồi bất động trong cabin huấn luyện, còn nước mắt cứ thế rơi.
    Cứu cánh cuối cùng của Capello là chân sút kỳ cựu Daniele Massaro, người đạt hiệu suất… 5 bàn ở mùa trước đấy. Kiểu tiền đạo như thế chưa bao giờ đạt hệ số an toàn đảm bảo cho tham vọng Scudetto.
    Milan khởi đầu mùa giải bằng thắng lợi 1-0 trước Torino ở trận siêu Cúp Italia. Nhưng bài thử nghiệm thật sự cho một “phong cách mới tinh” chỉ thật sự diễn ra ở Serie A.
    7 vòng đầu tiên có kết quả lần lượt là 1-0, 1-0, 0-0, 2-0, 2-0, 2-0, 0-0. Hai lượt tiếp theo là các kết quả hòa trước Foggia và Juve. Những dự cảm bất an dần len lỏi và hóa ra, Milan đúng là không ổn chút nào. Họ thua ngược Sampdoria 2-3 dù đã dẫn trước 2 bàn trong hiệp 1. Người ấn định tỷ số trận đấu, thật trớ trêu, là Gullit.
    Thảm họa là kịch bản in sẵn trong đầu Capello khi ông đón thêm hung tin. Boban, người thay thế Rijkaard, nghỉ thi đấu 3 tháng vì chấn thương. Bổ sung lực lương là nhiệm vụ bất khả thi bởi thị trường chuyển nhượng sẽ đóng cửa sau đây 2 ngày. Milan cũng đã khóa sổ tài chính.
    Capello tìm gặp Galliani. Bộ đôi thống nhất bí mật liên lạc Marseille và đưa Marcel Desailly về. Đây chưa phải chi tiết bất bình thường duy nhất trong thương vụ này.
    Milan, trong suốt thời gian trước đó, không coi trung vệ người Pháp là mục tiêu cần lưu tâm. GĐKT Ariedo Braida có tới Pháp do thám nhưng là để soi giò Boksic, đồng đội của Desailly. Là may mắn hay là định mệnh, nhưng trận đấu ấy là màn trình diễn xuất sắc nhất mùa giải của Desailly.
    Có Desailly, Capello suy nghĩ nghiêm túc về đất diễn của tân binh. Desailly sẽ trám vào chỗ trống Boban bỏ lại. Khi cần, một tiền đạo sẽ lùi về giữa sân và kiến tạo sơ đồ 4-1-4-1.
    Điều chỉnh của Capello như cái tát vào khối kiến trúc Sacchi hằng công xây dựng bao năm nay. Nhưng tính hiệu quả của nó là khỏi phải bàn. Để một trung vệ lên chơi tiền vệ chỉ rõ ý đồ tiếp cận trận đấu quyết liệt và chặt chẽ hơn.
    Sự hiện diện của “hộ pháp” Desailly đảm bảo Costacurta và Baresi không rơi vào trạng thái mất phương hướng. Silvano Ramaccioni chia sẻ với nhà báo Marcotti: “Desailly là máy quét trước hàng thủ. Nghĩa là, một khối lượng lớn công việc phòng ngự đã được Desailly đảm nhận và áp lực lên vai tứ vệ vô tình biến mất”.
    Capello không giao đích danh phần việc cụ thể nào cho Desailly. Ông chỉ đơn thuần là yêu cầu Desailly đoạt lại bóng trong các tình huống tranh chấp. Hoặc thậm chí, việc Desailly án ngữ trước bức tường bảo vệ đã là một cú hích với trận địa phòng thủ. Đối phương tự động dạt biên và gián tiếp giúp Milan chủ động thi triển kế hoạch phòng ngự vì chẳng ai muốn đối đầu với Desailly.
    Hàng thủ 1993/94 của Milan định hình từ ấy. Cộng thêm phương pháp huấn luyện qua băng hình nhằm phát hiện sai số của Capello, Milan đưa bóng đá về trạng thái đóng băng với tất cả, ngoại trừ họ.
    Cuộc đời có lúc này lúc kia. Bóng đá cũng vậy. Đâu phải lúc nào, điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. Tháng 02/1994, Milan thua Parma ở trận siêu Cúp châu Âu. Ở Serie A, đội thua liền hai vòng 29 & 30 sau khi đã thắng liền 9 trận trước đó. 7 trận liền kề, đội không thắng: Hòa 5 và thua 2.
    Vậy nhưng, những kẻ mừng thầm trong lòng không có dịp để cười nhạo Capello. Ông hầu như không mở miệng hay nhoẻn một nụ cười gượng ép nào. Mắt là bộ phận cơ thể Capello sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp hàng ngày. Tự cầu thủ, từng người một, nhìn vào Capello và hiểu nhiệm vụ của họ.
    Rất nhiều người tỏ thái độ không hài lòng vì… thái độ của Capello. Tuy nhiên, đừng mong nhận về sự an ủi hay vỗ về của Capello. Ông cố tình tạo ra những tình huống bắt cầu thủ phải đối mặt với chuyện này. Boban nói trên BBC bạn không bao giờ biết rõ Capello đang tức giận hay là ông ta chờ đợi sự phản bác của cầu thủ.
    Capello âm thầm, dền dứ kích động bầu không khí bởi ông muốn chạm vào tận cùng lòng tự trọng của các học trò. Để rồi, mọi người đều bung hết nội lực sau quá nhiều ngày bị tổn thương. Hưởng lợi nhiều nhất, chắc chắn là tập thể.
    Cũng thật viển vông nếu muốn nghe lời xin lỗi từ miệng Capello. Không cấm đoán những lời động viên tếu táo nhưng trong giờ làm việc của Capello, tuyệt đối không tồn tại sự cợt nhả hay quá trớn.
    Trên FourFourTwo, Capello nói: “Mọi người kêu có vấn đề với vợ, với con cái, với gia đình. Vâng, sự thật là ai cũng trải qua những khó khăn điển hình của cuộc sống ấy. Thế tôi hỏi, chúng ta đang ở đâu? Tới văn phòng là để làm việc, như thế mới đúng mục đích sử dụng văn phòng. Tôi cần cầu thủ của mình làm việc quần quật, hoàn thành bài tập tôi giao cho họ. Lắng nghe và hành động, nói ít thôi”.
    Chiến lược ấy phát huy tác dụng. Nếu không vì lối chơi phòng ngự cực đoan nhưng dựa trên nền móng khoa học ấy, Capello chắc chắn không bao giờ hoàn tất cú hat-trick Scudetto - kỳ tích đã không lặp lại kể từ cú ăn ba liên tiếp của Torino trong thập niên 1940.
    Không phải ai cũng dám nhìn vào sự thật này. Điển hình là Barca, đối thủ của Milan trong trận chung kết Champions League cùng năm. Báo chí Tây Ban Nha gọi Milan là kẻ cổ động giá trị xấu mang tên catenaccio. Nếu Barca dùng tiền tậu Romario tài hoa thì Milan đưa về đồ tể Desailly. Đến cả “thánh” Cruyff còn khẳng định “Milan chẳng là gì ở thế giới này”.
    Ở khía cạnh nào đó, có thể đồng cảm với suy nghĩ đó. Vì quả thật, Milan của Capello quá xấu xí, xù xì và thô ráp. Song trên hết, đó là tập thể bách chiến bách thắng, là mô hình tiêu biểu cho bất kỳ đế chế trị vì nào. Mặc cho cảm giác của những thắng lợi ấy mang lại chẳng “cao cấp” chút nào, thậm chí còn có phần hạ đẳng.
    Xin kể thêm một ví dụ về sự thông thái của Capello. Như đã biết, giữa Capello và Savicevic tồn tại mâu thuẫn. Trước chuyến bay sang Nhật Bản dự Cúp liên lục địa, Capello hay tin Savicevic có khả năng không đủ điều kiện ra sân vì nhận một án phạt từ FIFA trong lần quay về phục vụ nghĩa vụ quốc gia trước đấy ít lâu.
    Suất chơi đăng ký cho Savicevic chuyển nhượng sang Raducioiu, “sao xịt” của Milan. Tuyển thủ Romania nhận lời hứa danh dự của Capello rằng anh chắc chắn sẽ được trao cơ hội thi đấu.
    Từ FIFA, người ta phát đi thông báo Savicevic đủ điều kiện đi Nhật. Capello, như thói quen, không thỏa hiệp. Ông bỏ mặc Savicevic, cho Raducioiu vào sân và Milan đá trong tâm thế “chấp người”.
    Đến đây, sự nghiệp của Savicevic ở kinh đô thời trang coi như tiêu tàn. Capello đã đăng đàn chê bai thậm tệ tác phong của Savicevic: “Cậu ta tập tành gì đâu. Cho vào đá thì người khác phải nhân đôi cường độ bù vào à?”.
    Nhưng Capello không “ngu ngốc” như thế. Ông thừa trình độ để có cảm nhận tối thiểu, Savicevic – nhà vô địch châu Âu 1991 – không phải dạng vừa. Đêm Athens định mệnh, Capello bất ngờ điền tên Savicevic vào đội hình xuất phát.
    Và Sav đã chơi trận đấu cuộc đời. Anh kiến tạo cho Massaro mở tỷ số và trực tiếp nâng tỷ số lên 3-0 bằng cú lốp bóng đẳng cấp. Bàn thứ 4 dành tặng Desailly, và kim đồng hồ còn chưa chỉ qua phút 60.
    Milan khép lại mùa giải tuyệt diệu bằng chiến thắng 4 sao, một hiện tượng kỳ thú. Đội chưa từng ghi quá 2 bàn/trận trong 9 tháng. Lễ ăn mừng kéo dài tới 4 giờ sáng, với Capello và Galliani là những người duy nhất còn tỉnh táo.
    6 giờ sáng, cả đội về khách sạn. Trong thang máy, Capello rỉ tai Galliani ông trót làm mất chiếc Cúp bạc danh giá. Galliani mặt cắt không còn giọt máu. Ông hốt hoảng chạy tới quầy bar khách sạn hỏi tìm. Rồi là từng ngóc ngách trong khách sạn. Vẫn không thấy đâu.
    May mắn, một người dọn phòng thông báo chiếc Cúp được cất trong tủ giữ đồ thất lạc của khách sạn. Galliani thở phào, quay về phòng ngủ. Hơi khác một chút, ông không tận hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cùng vợ.
    Trong căn hộ cao cấp gồm 2 giường ngủ thửa riêng cho cấp lãnh đạo, Galliani, bằng cách nào đó, đã ngả lưng xuống chiếc giường còn lại. “Tôi không chắc chuyện gì xảy ra, nhưng khi thức dậy đã thấy mình nằm đối diện vợ trên cái giường còn lại. Tay ôm chặt chiếc Cúp”, trích lời kể của Galliani.

    GÓC AC MILAN

    HLV Fabio Capello CHỌN CÁCH “HÈN HẠ” ĐỂ ĐI TỚI VINH QUANG

    DAVID NGUYEN  |  at  9:05:00 PM

    Trước mùa giải huyền diệu 2003/04 của Arsenal, bóng đá châu Âu từng chứng kiến một sự kiện tương tự, là Scudetto của AC Milan mùa 1993/94. Nhưng những thước phim lịch sử kể về chiến tích vĩ đại ấy lại tuyệt nhiên không hề mang màu sắc sinh động. Fabio Capello đã dập tan hoài nghi về sự thực dụng trong ý đồ chiến thuật của giới cầm quân Italia, đồng thời đẩy sự “tiêu cực” trong bóng đá phòng ngự lên cảnh giới cao nhất.

    ourinho từng nói những chiến thắng đẳng cấp nhất trong bóng đá phải kết thúc với tỷ số 1-0. Thực ra, trước đấy khá lâu, là Capello “phát minh” ra công thức chiến thắng tối thiểu này.
    Mùa 1993/94, Milan vô địch Serie A mà chỉ ghi vỏn vẹn 36 bàn, song cũng để lọt lưới đúng 15 lần. Đội có 9 chiến thắng với tỷ số 1-0 và 22 trận giữ sạch lưới, bao gồm chuỗi 9 trận liên tiếp trên sân nhà giúp Sebastiano Rossi lập kỷ lục 920 phút giữ vững cầu môn.
    Trả lời phỏng vấn tờ La Gazzetta dello Sport, Capello đã khái niệm hóa ý nghĩa của những thắng lợi 1-0: “Có 3 sự thật được rút ra: Milan giành trọn 3 điểm, Milan giữ sạch lưới và Milan chiến đấu vì lý tưởng giữ chắc khung thành. Ngạn ngữ phương Tây đã nói, bạn nấu vang dựa trên những quả nhỏ cuối cùng trong tủ lạnh. Ngon hay dở phụ thuộc vào bếp trưởng”.
    Capello ngày ấy thậm chí còn cực đoan hơn Mourinho bây giờ. Mọi thứ luôn dừng lại ở ngưỡng “vừa đủ” và các cánh cửa tiến vào khung thành hai bên ngay lập tức đóng lại khi Milan vươn lên dẫn trước.
    Sự chính xác tới tuyệt đối của Capello và Milan 1993/94 đe dọa tới sức cống hiến của bóng đá. LĐBĐ Italia FIGC lo sợ nếu Milan cứ tiếp tục chơi bóng như một cỗ máy vô cảm được lập trình tới từng hành vi thế này, khán giả sẽ không tới sân. Cuối cùng, nhân danh “vì bóng đá tấn công”, giới cầm quyền quy định mỗi chiến thắng có giá trị 3 điểm kể từ mùa giải kế tiếp. Mà thực chất, ai cũng hiểu bước đi ấy là động thái nhằm “hạn chế” sức mạnh lan tỏa của Milan.
    Fabio Capello khá kiệm lời. Những cuộc đối thoại trong phòng thay đồ thường diễn ra một chiều. Ông ra lệnh, đưa yêu cầu và buộc cầu thủ đáp ứng. Nếu ai đó không thể làm đúng nguyện vọng của Capello, họ sẽ tự động bị thải loại và nhường chỗ cho một nhân vật khác.
    Trả lời tờ Daily Record, Brian Laudrup tiết lộ cách quản trị của Capello không tồn tại khái niệm tình cảm. Cựu chủ tịch Silvio Berlusconi thì nhanh chóng nhìn thấy đặc tính “không tranh luận” trong hướng tiếp cận vấn đề của Capello. Ông nói, và người khác tuân lệnh.
    Jean-Pierre Papin coi thứ bóng đá Capello xây dựng là buồn tẻ. “Không ai muốn tham gia vào trò chơi của ông ấy nếu có lựa chọn”, Papin nói. Làm việc dưới trướng Capello không khác là bao cuộc sống của những tù nhân. Làm theo chỉ đạo của quản ngục là phương án duy nhất.
    Nhưng Capello dường như không bận tâm các tác động ngoại cảnh. Ông chỉ chú ý tới Scudetto thứ 3 trong sự nghiệp cầm quân của mình. Thành tích 0,44 bàn thua/trận mùa 1993/94 của Milan thực sự là một đỉnh cao của nghệ thuật phòng ngự.
    Suốt chiều dài lịch sử bóng đá, chỉ 4 đội làm tốt hơn Milan của Capello là Milan 1968/69 của Nereo Rocco (0.4), Chelsea 2004/05 của Jose Mourinho(0.395), Liverpool 1978/79 của Bob Paisley (0.381) và Cagliari 1969/70 (0.367). Phải dành những tràng pháo tay cho Capello bởi cuối cùng, ông vẫn mang Cúp về - mục đích sau cuối của bất kể đội bóng nào.
    Từ ngày xỏ giày đá bóng, Capello đã tận dụng cơ hội quý báu hàng tuần để tiếp cận các tư tưởng chiến thuật. Tiền vệ trung tâm mạnh mẽ nhưng không kém phần tinh tế này khởi nghiệp ở Spal và chuyển tới Roma năm 1967. Thật tình cờ, đúng một năm sau, HLV huyền thoại Helenio Herrera về thủ đô (người nâng tầm Catenaccio, giúp Inter vô địch quốc gia 3 lần và C1 châu Âu 2 lần liên tiếp).
    Với cá nhân Capello, Herrera là một thiên tài. Chiến lược gia có biệt danh Il Mago sở hữu trí tuệ đi trước thời đại 10 năm. Trong tự truyện, Capello nhấn mạnh “Ông học Herrera từ kiến thức chuyên môn tới kỹ năng quản trị”.
    Nhà báo Gabriel Marcotti kể lại câu chuyện khiến ông ấn tượng nhất trong quá trình đi theo Capello để chắp bút cho cuốn sách. Đó là kỹ nghệ sử dụng ngôn ngữ của Herrera. Ông luôn nói “Tập theo cách chúng ta chơi trên sân chính”.
    Vào buổi sáng ngay trước giờ bóng lăn, Herrera sẽ tới túm lấy áo học trò và hét vào mặt họ: “Cậu là thằng khỏe nhất. Cậu sẽ ăn thịt bọn chúng cho bữa sáng. Và nếu chẳng may, một cầu thủ tỏ ra uể oải hoặc chạy chậm làm lỡ bài tập toàn đội, anh ta sẽ bị mời về nhà.
    Năm 1970, Capello tới Juventus. Đội vừa bổ nhiệm tân HLV Armando Picchi - người cách đấy không lâu còn là chỉ huy trưởng trong sư đoàn Inter hùng mạnh mà Herrera dẫn dắt. Nhưng căn bệnh quái ác liên quan tới cột sống sớm cướp đi cuộc sống của Picchi. Juve đưa Cest Vycpalek, cậu ruột của Zdenek Zeman từ đội trẻ lên nắm quyền. Ở Turin, Capello giành chiến thắng vào các năm 1972, 1973 và 1975 rồi sau đó cập bến Milan.
    Giống như tình tiết của lần chuyển sang Roma, Capello lại nhanh chóng có cơ hội về chung mái nhà với một huyền thoại Catenaccio khác. Lần này là Rocco, kiến trúc sư của Milan trong kỷ nguyên vàng ở thập niên 1960 của CLB. Điều đó đồng nghĩa, ngay từ khi là cầu thủ, Capello đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai triết lý chiến thuật hàng đầu Italia.
    Niels Liedholm là HLV cuối cùng Capello cộng tác trước ngày giải nghệ. Nhưng có vẻ HLV nổi tiếng với phong cách thư giãn cùng lối trò chuyện mềm mỏng không phải gu của Capello.
    Một lần, Berlusconi thử đề nghị liệu Capello có thể tươi tỉnh hơn mỗi lần đứng chỉ đạo hay không. Câu trả lời ngài thủ tướng thuở nào nhận về là: “Khi làm việc, tôi không có nghĩa vụ đáp ứng bất kể yêu cầu nào, ngoại trừ kết quả”.
    Là con trai của một giáo viên, Capello sớm bộc lọ khả năng lãnh đạo bẩm sinh. Ông dấn thân vào giới huấn luyện và bắt đầu công việc ở hai đội U17, U19 Milan. Capello hạnh phúc với công việc vì nó cho ông cảm giác của người thợ chăm vườn nhìn những mầm cây lớn lên từng ngày.
    1986 là năm bản lề với Capello. Sau sự cố dàn xếp tỷ số Totoreno đẩy Milan vào cảnh nợ nần suốt nhiều năm liền, Berlusconi xuất hiện và bơm nguồn doping tài chính cùng tham vọng đế vương.
    Năm đó, Liedholm là HLV trưởng còn Capello đóng vai trợ lý. Nhưng chiếc phao cứu sinh mà Berlusconi quẳng xuống chưa giúp Milan hồi phục ngay. Đội đã trải qua năm 1986 đầy biến động. Có lần, CĐV quá khích ném gạch vào thẳng cabin huấn luyện, làm vỡ mảng kính áp tai Liedholm.
    Vào tháng 4/1987, sau thất bại ở Coppa Italia trước Parma của Arrigo Sacchi và tiếp đến là một trận thua khác ở Serie B, HLV người Thụy Điển nhận trát sa thải. Capello tạm thời lên nắm quyền.
    Ông nhanh chóng cho thấy sự tàn nhẫn và tính quyết đoán tới độc tài, vốn thừa hưởng bởi Helenio Herrera - HLV đầu tiên áp dụng các biện áp quản trị cứng rắn và đề cao kỷ luật nội bộ. Trong một trận đấu, Capello từng đưa Guiseppe Galderisi vào sân sau giờ nghỉ giữa hiệp và thay anh ta đúng 14 phút sau vì một dụng ý chiến thuật.
    Nhờ “quyền HLV” Capello, Milan có vé đi UEFA Cup. Song Berlusconi bấy giờ vẫn chưa nguôi ngoai ám ảnh để thua Parma của Sacchi. Trên con đường phục hưng Milan, Berlusconi liền mang về Sacchi.
    Sacchi, một cựu tư vấn bán hàng ở shop giày dép, quả thật là một thiên tài. Ông làm cuộc cách mạng bóng đá bằng sơ đồ 4-4-2 tưởng chỉ dành cho những anh chàng thừa sức khỏe, thiếu trí khôn ở Anh. Hệ thống phòng ngự khu vực được giới thiệu và các bài tập chạy chỗ chọn vị trí trở thành nền tảng của mọi cuốn sách giáo khoa sau này. Những diễn viên trực tiếp làm nên đoàn kịch vĩ đại này rặt toàn hào thủ: Marco van Basten, Ruud Gullit, Frank Rijkaard và Carlo Ancelotti. Một thế hệ vàng đích thực.
    Trong khoảng thời gian này, Capello ở đâu? Ông tạm rời ánh đèn sân khấu nhưng không phải để quay về công tác đào tạo trẻ. Tiềm năng của Capello buộc giới điều hành Milan đưa vào ông diện “cơ cấu”. Họ gửi Capello tới khóa học kéo dài 1 năm dành riêng cho những chức vụ quản lý cao cấp ở bất kỳ tập đoàn nào.
    Không nằm ngoài dự đoán, Capello hoàn thành xuất sắc khóa học. Người đàn ông tới từ tỉnh lẻ Gorizia chiếm trọn cảm tình của Berlusconi và ngồi vào ghế giám đốc Polisportiva Milan - trung tâm giám sát nội bộ các đội tuyển bóng chuyền, khúc côn cầu, bóng chày và rugby mang thương hiệu Milan sau khi lần lượt kinh qua các vị trí hành chính nhân sự, tiếp thị và quản lý tài chính.
    Năm 1991, Berlusconi sa thải Sacchi, trao quyền tiếp quản cho Capello. Di sản nhận lại từ người tiền nhiệm là một tập thể gặt hái biết bao thành công, nhưng đang trên đà soái trào. Ngày chia tay, Sacchi gửi lời tạm biệt: “Tôi nghĩ họ là những kẻ vĩ đại nhưng đang ở đoạn cuối của chu kỳ thành công”.
    Sau này, Sacchi phải thừa nhận “Tôi đã sai”. Vì Capello.
    Ngày Capello vào ghế nóng, truyền thông xứ mỳ ống coi ông là con rối trong tay Berlusconi. Ống kính máy quay không mấy khi ghi âm được câu phát biểu nào của Capello và thế là, họ cho rằng Capello tự nhận thức được vai trò và tầm ảnh hưởng của mình. Ông không ở vị trí của kẻ được phép phàn nàn về sự đầu tư nhỏ giọt của Berlusconi, với sự bổ sung đáng kể duy nhất là đưa Demetrio Albertini từ đội trẻ lên thay Ancelotti.
    Đối mặt bao nhiêu khó khăn song Capello vẫn còn đấy Gullit, Basten và bộ tứ hậu vệ có thể xem là ăn ý và hoàn hảo nhất. Họ cùng chia sẻ tình yêu, hiểu biết và văn hóa: Mauro Tassotti - tới Milan từ Lazio vào đầu thập niên 1980 cùng bộ ba cây nhà lá vườn Paolo Maldini, Alessandro Costacurta và Baresi.
    Capello đặc biệt trân trọng “bộ tứ” này bởi bản thân ông cũng hiểu họ chẳng kém gì họ hiểu nhau. Capello đã từng là đồng đội của Baresi, trực tiếp quản lý Maldini và Costacurta ở tuyến trẻ. Thêm nữa, những cầu thủ này đều thuộc diện “con nhà nòi”, thừa hưởng gen bóng đá đỉnh cao của gia đình giàu truyền thống.
    Maldini là con trai của Cesare, trung vệ trứ danh từng cùng Milan giành 4 scudetto và 1 ngôi danh hiệu châu Âu trong thập niên 1960 và 1970 thế kỷ trước. Casare từng làm việc cùng HLV Rocco dưới hai vai trò khác nhau là cầu thủ và trợ lý.
    Một điểm đáng lưu ý khác, là giữa Capello và những biểu tượng chiến thuật Italia còn có giao điểm địa lý. Cesare và Rocco tới từ Trieste, thành phố ven biển nằm sâu ở Đông Bắc Italia. Capello sinh ra ở San Canzian d’Isonzo – cách Trieste chỉ 30 phút lái xe.
    Lợi thế đáng kể nữa của Capello trong kế hoạch xây dựng Milan trên nền tảng bộ tứ vệ là di sản to lớn của Sacchi. Ông ta là con nghiện chiến thuật và có thể lảm nhảm về bóng đá trong mơ. Khối lượng tập luyện Sacchi đề ra đồ sộ tới mức Frank Rijkaard sẵn sàng úp mặt vào bồn cầu để “thỏa mãn” cơn ói mửa. Đổi lại, phương pháp của Sacchi đảm bảo ngay cả khi bị bịt mắt, các cầu thủ vẫn dễ dàng chơi bóng đúng như kỳ vọng của ông.
    “Các buổi tập của Sacchi rất điên rồ”, Maldini chia sẻ trên Daily Mail hồi 2005. Maldini nói tiếp: “Sacchi bắt bạn làm việc chăm chỉ và thâm nhập vào não bộ của bạn. Ông ấy bắt từng người lặp lại một hành động nhiều lần, nhất là các hậu vệ. Ngày qua ngày. Nhưng nếu tôi, Baresi và Tassotti lại có cơ hội đoàn tụ, chúng tôi sẽ chơi thứ bóng đá đỉnh cao của những năm 1990. Vì đó là tiềm thức”.
    Giai đoạn đầu nhận việc, Capello duy trì sơ đồ quen thuộc 4-4-2. Milan ghi tới 74 bàn ngay trong chiến dịch Serie A đầu tiên của Capello. Ngày cuối cùng mùa giải, Milan vùi dập Foggia của Zeman 8-2 không thương tiếc.
    Ở đấu trường châu lục có phần ngược lại. Sự cố xảy ra trong trận tứ kết Cúp châu Âu cách đó 1 năm. Dàn đèn trên sân bất ngờ dừng hoạt động vào đúng khoảng thời gian hiệp phụ khi tỷ số đang là 1-0 nghiêng về Marseille.
    Lực lượng sửa chữa nhanh chóng khắc phục lỗi nhưng Adriano Galliani đã nhanh nhẩu đưa cầu thủ vào phòng thay đồ và từ chối quay trở lại sân với hy vọng gây áp lực buộc UEFA phải tổ chức đá lại. Nhưng UEFA không coi đó là yêu cầu hợp lý nên ra án phạt cấm Milan dự các giải đấu châu lục trong 12 tháng.
    Dù sao, cú đại nhảy vọt của Capello cũng đã tới thời điểm. Berlusconi quyết định tái bạo chi và mở hầu bao vào năm 1992. CLB phá kỷ lục chuyển nhượng bằng bản hợp đồng với Gianluigi Lentini, tậu thêm đương kim QBV châu Âu Papin, gọi lại Zvonimir Boban từ Bari và đánh canh bạc với tiền vệ Dejan Savicevic – nguồn cảm hứng của Sao Đỏ Belgrade trong chiến tích vô địch châu Âu 1991. Những tân binh này hợp cùng bộ 3 người Hà lan bay, tạo thành phòng truyền thống danh giá bậc nhất hành tinh với 5 kỷ niệm chương Ballon d’Or.
    Nhưng câu chuyện thời thế đẩy Capello vào cơn đau đầu. Đạo luật “3 cầu thủ ngoại quốc trên sân cùng lúc” buộc vị HLV này phải đưa ra những lựa chọn nghiệt ngã, dù sự thật là 6 ngôi sao tấn công này ghi cả thảy 65 bàn trong mùa giải 1992/93.
    Vấn đề nhức nhối nhất Capello thật sự cần giải quyết là phòng thủ - điểm tựa Capello tưởng là vững chãi nhất. Ông cố gắng thử nghiệm Rijkaard và Albertini ở vị trí tiền vệ lùi nhưng tinh chỉnh này không giúp đội cải thiện khả năng chống đỡ. Hệ quả là 32 bàn thua.
    Dẫu sao, Milan vẫn bảo vệ thành công Scudetto mùa 1992/93 mà chỉ để thua đúng 2 trận trong cả chiến dịch.
    Ở một diễn biến khác, vết đau ở mắt cá chân của Van Basten tái phát. Tiền đạo người Hà Lan được dự báo phải ngồi ngoài vài tháng, đúng vào lúc Milan hết án phạt và quay trở lại sân chơi C1 dưới tên gọi mới là Champions League.
    Trong cả chiến dịch, Milan đã thể hiện bộ mặt lầm lỳ đáng sợ. Cả vòng bảng, đội thủng lưới duy nhất 1 bàn sau 6 trận. Nghiệt ngã ở chỗ trước ngưỡng cửa thiên đường, Milan lại để Marseille – đội cửa dưới của trận chung kết đánh bại 1-0.
    Những thống kê lúc này không còn nhiều ý nghĩa. Capello luôn ngờ ngợ có gì đó không ổn ở hàng thủ.
    Bây giờ là mùa giải 1993/94 – “nhân vật chính” trong bài viết của chúng ta hôm nay. Capello hướng tới ngai vàng lần thứ 3 liên tiếp. Chuyến tàu tới Milan đón thêm ba vị hành khách là Laudrup, Panucci và Raducioiu. Ở chiều ngược lại, những người rời đi là Rijkaard (về Ajax) và Gullit (cho Sampdoria mượn).
    Quyết định loại Gullit của Capello gây nhiều tranh cãi. Tất nhiên là ông đủ tự tin và hiểu biết khi đưa ra phán xét. Cho tới khi các tác động ngoại cảnh ồ ạt ập tới.
    Papin liên tục làm bạn với giường bệnh. Marco Simeone mình mẩy đòi ra đi. Savicevic trở thành bóng ma đúng nghĩa trên mặt trận chuyên môn nhưng Capello chẳng thể kỷ luật anh này vì sự ưu ái cá nhân của ông chủ Berlusconi.
    Đỉnh điểm là tháng 8/1993, Lentini mất lái khi đang điều khiển siêu xe Porsche. Chiếc xe văng khỏi đường, trượt thẳng xuống một con mương và phát nổ. Lentini nứt hộp sọ, trải qua hai ngày hôn mê. Ở tuổi 24, Lentini còn đủ may mắn phục hồi thể trạng, nhưng vĩnh viễn đánh mất đi tài năng bóng đá xưa kia.
    Tình trạng của Van Basten không mấy khá khẩm. Mắt cá chân của Basten ngày càng tệ hơn sau khi Capello liều lĩnh sử dụng anh trong trận chung kết gặp Marseille cách đó mấy tháng. Giải nghệ là kết cục không thể khác. Ở tuổi 28, Van Basten nói lời chào tạm biệt San Siro.
    Mất mát này vượt qua khuôn khổ của một trận bóng đá. Sacchi vĩ đại là thế mà vẫn bị Berlusconi tống cổ chỉ vì mối quan hệ bất hòa với Van Basten. Tờ FourFourTwo từng tiết lộ thông tin một fan hâm mộ nhiệt thành của Milan, Paolo Simonetti, sẵn sàng hiến tặng phần sụn của mình để các bác sỹ có thể chữa lành vết thương mãn tính của Van Basten.
    Galliani ví Van Basten như Leonardo da Vinci toàn năng. Ngày Van Basten giải nghệ, Capello ngồi bất động trong cabin huấn luyện, còn nước mắt cứ thế rơi.
    Cứu cánh cuối cùng của Capello là chân sút kỳ cựu Daniele Massaro, người đạt hiệu suất… 5 bàn ở mùa trước đấy. Kiểu tiền đạo như thế chưa bao giờ đạt hệ số an toàn đảm bảo cho tham vọng Scudetto.
    Milan khởi đầu mùa giải bằng thắng lợi 1-0 trước Torino ở trận siêu Cúp Italia. Nhưng bài thử nghiệm thật sự cho một “phong cách mới tinh” chỉ thật sự diễn ra ở Serie A.
    7 vòng đầu tiên có kết quả lần lượt là 1-0, 1-0, 0-0, 2-0, 2-0, 2-0, 0-0. Hai lượt tiếp theo là các kết quả hòa trước Foggia và Juve. Những dự cảm bất an dần len lỏi và hóa ra, Milan đúng là không ổn chút nào. Họ thua ngược Sampdoria 2-3 dù đã dẫn trước 2 bàn trong hiệp 1. Người ấn định tỷ số trận đấu, thật trớ trêu, là Gullit.
    Thảm họa là kịch bản in sẵn trong đầu Capello khi ông đón thêm hung tin. Boban, người thay thế Rijkaard, nghỉ thi đấu 3 tháng vì chấn thương. Bổ sung lực lương là nhiệm vụ bất khả thi bởi thị trường chuyển nhượng sẽ đóng cửa sau đây 2 ngày. Milan cũng đã khóa sổ tài chính.
    Capello tìm gặp Galliani. Bộ đôi thống nhất bí mật liên lạc Marseille và đưa Marcel Desailly về. Đây chưa phải chi tiết bất bình thường duy nhất trong thương vụ này.
    Milan, trong suốt thời gian trước đó, không coi trung vệ người Pháp là mục tiêu cần lưu tâm. GĐKT Ariedo Braida có tới Pháp do thám nhưng là để soi giò Boksic, đồng đội của Desailly. Là may mắn hay là định mệnh, nhưng trận đấu ấy là màn trình diễn xuất sắc nhất mùa giải của Desailly.
    Có Desailly, Capello suy nghĩ nghiêm túc về đất diễn của tân binh. Desailly sẽ trám vào chỗ trống Boban bỏ lại. Khi cần, một tiền đạo sẽ lùi về giữa sân và kiến tạo sơ đồ 4-1-4-1.
    Điều chỉnh của Capello như cái tát vào khối kiến trúc Sacchi hằng công xây dựng bao năm nay. Nhưng tính hiệu quả của nó là khỏi phải bàn. Để một trung vệ lên chơi tiền vệ chỉ rõ ý đồ tiếp cận trận đấu quyết liệt và chặt chẽ hơn.
    Sự hiện diện của “hộ pháp” Desailly đảm bảo Costacurta và Baresi không rơi vào trạng thái mất phương hướng. Silvano Ramaccioni chia sẻ với nhà báo Marcotti: “Desailly là máy quét trước hàng thủ. Nghĩa là, một khối lượng lớn công việc phòng ngự đã được Desailly đảm nhận và áp lực lên vai tứ vệ vô tình biến mất”.
    Capello không giao đích danh phần việc cụ thể nào cho Desailly. Ông chỉ đơn thuần là yêu cầu Desailly đoạt lại bóng trong các tình huống tranh chấp. Hoặc thậm chí, việc Desailly án ngữ trước bức tường bảo vệ đã là một cú hích với trận địa phòng thủ. Đối phương tự động dạt biên và gián tiếp giúp Milan chủ động thi triển kế hoạch phòng ngự vì chẳng ai muốn đối đầu với Desailly.
    Hàng thủ 1993/94 của Milan định hình từ ấy. Cộng thêm phương pháp huấn luyện qua băng hình nhằm phát hiện sai số của Capello, Milan đưa bóng đá về trạng thái đóng băng với tất cả, ngoại trừ họ.
    Cuộc đời có lúc này lúc kia. Bóng đá cũng vậy. Đâu phải lúc nào, điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. Tháng 02/1994, Milan thua Parma ở trận siêu Cúp châu Âu. Ở Serie A, đội thua liền hai vòng 29 & 30 sau khi đã thắng liền 9 trận trước đó. 7 trận liền kề, đội không thắng: Hòa 5 và thua 2.
    Vậy nhưng, những kẻ mừng thầm trong lòng không có dịp để cười nhạo Capello. Ông hầu như không mở miệng hay nhoẻn một nụ cười gượng ép nào. Mắt là bộ phận cơ thể Capello sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp hàng ngày. Tự cầu thủ, từng người một, nhìn vào Capello và hiểu nhiệm vụ của họ.
    Rất nhiều người tỏ thái độ không hài lòng vì… thái độ của Capello. Tuy nhiên, đừng mong nhận về sự an ủi hay vỗ về của Capello. Ông cố tình tạo ra những tình huống bắt cầu thủ phải đối mặt với chuyện này. Boban nói trên BBC bạn không bao giờ biết rõ Capello đang tức giận hay là ông ta chờ đợi sự phản bác của cầu thủ.
    Capello âm thầm, dền dứ kích động bầu không khí bởi ông muốn chạm vào tận cùng lòng tự trọng của các học trò. Để rồi, mọi người đều bung hết nội lực sau quá nhiều ngày bị tổn thương. Hưởng lợi nhiều nhất, chắc chắn là tập thể.
    Cũng thật viển vông nếu muốn nghe lời xin lỗi từ miệng Capello. Không cấm đoán những lời động viên tếu táo nhưng trong giờ làm việc của Capello, tuyệt đối không tồn tại sự cợt nhả hay quá trớn.
    Trên FourFourTwo, Capello nói: “Mọi người kêu có vấn đề với vợ, với con cái, với gia đình. Vâng, sự thật là ai cũng trải qua những khó khăn điển hình của cuộc sống ấy. Thế tôi hỏi, chúng ta đang ở đâu? Tới văn phòng là để làm việc, như thế mới đúng mục đích sử dụng văn phòng. Tôi cần cầu thủ của mình làm việc quần quật, hoàn thành bài tập tôi giao cho họ. Lắng nghe và hành động, nói ít thôi”.
    Chiến lược ấy phát huy tác dụng. Nếu không vì lối chơi phòng ngự cực đoan nhưng dựa trên nền móng khoa học ấy, Capello chắc chắn không bao giờ hoàn tất cú hat-trick Scudetto - kỳ tích đã không lặp lại kể từ cú ăn ba liên tiếp của Torino trong thập niên 1940.
    Không phải ai cũng dám nhìn vào sự thật này. Điển hình là Barca, đối thủ của Milan trong trận chung kết Champions League cùng năm. Báo chí Tây Ban Nha gọi Milan là kẻ cổ động giá trị xấu mang tên catenaccio. Nếu Barca dùng tiền tậu Romario tài hoa thì Milan đưa về đồ tể Desailly. Đến cả “thánh” Cruyff còn khẳng định “Milan chẳng là gì ở thế giới này”.
    Ở khía cạnh nào đó, có thể đồng cảm với suy nghĩ đó. Vì quả thật, Milan của Capello quá xấu xí, xù xì và thô ráp. Song trên hết, đó là tập thể bách chiến bách thắng, là mô hình tiêu biểu cho bất kỳ đế chế trị vì nào. Mặc cho cảm giác của những thắng lợi ấy mang lại chẳng “cao cấp” chút nào, thậm chí còn có phần hạ đẳng.
    Xin kể thêm một ví dụ về sự thông thái của Capello. Như đã biết, giữa Capello và Savicevic tồn tại mâu thuẫn. Trước chuyến bay sang Nhật Bản dự Cúp liên lục địa, Capello hay tin Savicevic có khả năng không đủ điều kiện ra sân vì nhận một án phạt từ FIFA trong lần quay về phục vụ nghĩa vụ quốc gia trước đấy ít lâu.
    Suất chơi đăng ký cho Savicevic chuyển nhượng sang Raducioiu, “sao xịt” của Milan. Tuyển thủ Romania nhận lời hứa danh dự của Capello rằng anh chắc chắn sẽ được trao cơ hội thi đấu.
    Từ FIFA, người ta phát đi thông báo Savicevic đủ điều kiện đi Nhật. Capello, như thói quen, không thỏa hiệp. Ông bỏ mặc Savicevic, cho Raducioiu vào sân và Milan đá trong tâm thế “chấp người”.
    Đến đây, sự nghiệp của Savicevic ở kinh đô thời trang coi như tiêu tàn. Capello đã đăng đàn chê bai thậm tệ tác phong của Savicevic: “Cậu ta tập tành gì đâu. Cho vào đá thì người khác phải nhân đôi cường độ bù vào à?”.
    Nhưng Capello không “ngu ngốc” như thế. Ông thừa trình độ để có cảm nhận tối thiểu, Savicevic – nhà vô địch châu Âu 1991 – không phải dạng vừa. Đêm Athens định mệnh, Capello bất ngờ điền tên Savicevic vào đội hình xuất phát.
    Và Sav đã chơi trận đấu cuộc đời. Anh kiến tạo cho Massaro mở tỷ số và trực tiếp nâng tỷ số lên 3-0 bằng cú lốp bóng đẳng cấp. Bàn thứ 4 dành tặng Desailly, và kim đồng hồ còn chưa chỉ qua phút 60.
    Milan khép lại mùa giải tuyệt diệu bằng chiến thắng 4 sao, một hiện tượng kỳ thú. Đội chưa từng ghi quá 2 bàn/trận trong 9 tháng. Lễ ăn mừng kéo dài tới 4 giờ sáng, với Capello và Galliani là những người duy nhất còn tỉnh táo.
    6 giờ sáng, cả đội về khách sạn. Trong thang máy, Capello rỉ tai Galliani ông trót làm mất chiếc Cúp bạc danh giá. Galliani mặt cắt không còn giọt máu. Ông hốt hoảng chạy tới quầy bar khách sạn hỏi tìm. Rồi là từng ngóc ngách trong khách sạn. Vẫn không thấy đâu.
    May mắn, một người dọn phòng thông báo chiếc Cúp được cất trong tủ giữ đồ thất lạc của khách sạn. Galliani thở phào, quay về phòng ngủ. Hơi khác một chút, ông không tận hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cùng vợ.
    Trong căn hộ cao cấp gồm 2 giường ngủ thửa riêng cho cấp lãnh đạo, Galliani, bằng cách nào đó, đã ngả lưng xuống chiếc giường còn lại. “Tôi không chắc chuyện gì xảy ra, nhưng khi thức dậy đã thấy mình nằm đối diện vợ trên cái giường còn lại. Tay ôm chặt chiếc Cúp”, trích lời kể của Galliani.

    Ở trận cầm quân thứ 1.000, Bayern Munich của Carlo Ancelotti đã nghiền nát Hamburg 8-0. Và trong thiên cổ tích “ngàn lẻ một trận”, Ancelotti cũng tận hưởng khoái cảm chiến thắng khi Bayern hạ Schalke 3-0. Bayern thắng là chuyện nhỏ, song việc Ancelotti điều binh tới 1.001 trận thì lại có tầm vóc lớn bởi có mấy HLV trên thế giới làm được điều đó. Song, Ancelotti lặng lẽ làm “công việc của người Italia” với tinh thần ung dung tự tại của thuyết Vô Vi.

    Cất chất giọng trầm khàn ấm áp, Carlo Ancelotti có vẻ khó nhọc để truyền tải các thông điệp bằng tiếng Đức. 8 tháng ở Bavaria không giúp ích nhiều Carletto trong việc làm quen với ngôn ngữ của “dân tộc thượng đẳng”. Có sao, cuộc đời ông đã kinh qua ngàn vạn thử thách hóc búa gấp nhiều lần, và rồi đều uyển chuyển vượt qua như dòng nước, bởi một lẽ…
    Từ Italia đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha và bây giờ là nước Đức, nơi đâu cũng in hằn dấu chân của người chiến thắng mang tên Carlo Ancelotti. Nhìn vào ông một số luôn tự hỏi, đằng sau cái vẻ trầm mặc kia là nguồn năng lượng vô tận và bộ óc thiên tài đến thế nào? Trong thế giới của những nhà cầm quân đương đại, Carletto chưa bao giờ phải tranh giành vị thế số 1, nhưng nội 3 Cúp Champions League danh giá đã đủ liệt ông vào hàng đầu, nếu không muốn nói là xuất sắc nhất.
    Vấn đề ở chỗ, Ancelotti không thực sự thuộc về một thái cực nào. Ông không phải người có một phong cách đặc trưng về chiến thuật như Pep Guardiola, thiếu những nghệ thuật hắc ám của Jose Mourinho, không thực dụng với lối chơi phòng ngự hà khắc như Diego Simeone, cũng không lãng mạn bay bổng theo kiểu bảo thủ duy ý chí của Arsene Wenger, không hướng đến phát triển dựa trên nền tảng tài năng trẻ giống Juergen Klopp. Bản thân Ancelotti là một nhà cầm quân điềm đạm, nên ông cũng thiếu các tố chất dạng thủ lĩnh tinh thần như Antonio Conte.
    Vậy thì, câu hỏi được đặt ra là, Ancelotti tại sao lại thành công đến thế? Không may mắn nào có thể giúp một huấn luyện viên đăng quang Champions League đến 3 lần. Câu trả lời, trong trường hợp của Carletto, đó là sự linh hoạt và tính tổ chức. Thông thường, hai phạm trù này có sự va đập bởi tính tổ chức đòi hỏi những quy chuẩn, trong khi sự linh hoạt lại được sinh ra để phá vỡ những quy chuẩn ấy. Nhưng Carlo giải quyết được bài toán này bởi sự nhạy bén thiên bẩm. Nó bắt nguồn từ xuất phát điểm từ những ngày Ancelotti đến với bóng đá.
    Những đứa trẻ con nhà nông ở vùng Emilia-Romagna đều có một đặc trưng tính cách: Ý chí kiên cường và khả năng xoay chuyển số phận. Ancelotti là một người như thế. Sớm đối mặt với những khó khăn từ thuở tấm bé, nên cho dù mang trong mình nhiều mặc cảm ngày đầu đặt chân vào lãnh địa bóng đá, Carlo vẫn biết biến nó trở thành động lực để vượt qua.
    Trong tâm tưởng của người thầy vĩ đại Arrigo Sacchi, Ancelotti không phải một tiền vệ có tốc độ hoặc kỹ năng đặc biệt, lại không có vẻ ngoài dữ dằn bặm trợn. Đổi lại, Ancelotti chơi bóng như “nhạc trưởng của dàn giao hưởng”.
    Người thầy trước nữa của Carletto, Nils Liedholm chỉ dạy cho ông điều cơ bản nhất với một HLV: Cách ứng nhân xử thế với các cầu thủ. Tại Roma, Liedholm không nói với học trò: “Cậu phải làm như thế này, hoặc thế kia. Đó là sự độc đoán và nó không nên có ở một HLV” - Carlo hồi tưởng.
    Trong ký ức của Ancelotti, vị thuyền trưởng người Thụy Điển là chuẩn mực mà một HLV nên theo đuổi: “Khi Roma hành quân lên phía bắc, đội bóng không di chuyển bằng máy bay bởi ông ấy - Nils Liedholm, sợ máy bay. Thay vào đó, chúng tôi đi tàu, từ Rome đến Milan.
    Khoảng cách là hơn 500km, và nếu ngày nay tàu cao tốc chỉ mất 3 giờ đồng hồ, thì trước đây chúng tôi cần đến 9 tiếng. Ông lên tàu lúc 9h30 tối và đến 10h là đã ngủ rồi. Nửa đêm, ông ấy tỉnh dậy và trò chuyện với những người không thể ngủ được. Nils thường nhờ một bác sỹ có năng khiếu kể chuyện của Roma vào phòng thay đồ kể truyện cười cho toàn đội, một liệu pháp tâm lý tuyệt vời”.
    Sau này, Ancelotti cũng thường làm thế với các học trò, thậm chí là trước trận chung kết Champions League. Ông hiểu rõ giá trị của các cầu thủ ở cấp cao nhất: Hầu hết họ không cần phải thúc đẩy. Họ chỉ cần sự bình tĩnh.

    NGƯỜI Ý TRẦM LẶNG VÀ BÍ QUYẾT CHIẾN THẮNG VỚI THUYẾT VÔ VI

    Ở trận cầm quân thứ 1.000, Bayern Munich của Carlo Ancelotti đã nghiền nát Hamburg 8-0. Và trong thiên cổ tích “ngàn lẻ một trận”, Ancelotti cũng tận hưởng khoái cảm chiến thắng khi Bayern hạ Schalke 3-0. Bayern thắng là chuyện nhỏ, song việc Ancelotti điều binh tới 1.001 trận thì lại có tầm vóc lớn bởi có mấy HLV trên thế giới làm được điều đó. Song, Ancelotti lặng lẽ làm “công việc của người Italia” với tinh thần ung dung tự tại của thuyết Vô Vi.

    XUẤT PHÁT ĐIỂM CỦA THIÊN TÀI

    Cất chất giọng trầm khàn ấm áp, Carlo Ancelotti có vẻ khó nhọc để truyền tải các thông điệp bằng tiếng Đức. 8 tháng ở Bavaria không giúp ích nhiều Carletto trong việc làm quen với ngôn ngữ của “dân tộc thượng đẳng”. Có sao, cuộc đời ông đã kinh qua ngàn vạn thử thách hóc búa gấp nhiều lần, và rồi đều uyển chuyển vượt qua như dòng nước, bởi một lẽ…
    Từ Italia đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha và bây giờ là nước Đức, nơi đâu cũng in hằn dấu chân của người chiến thắng mang tên Carlo Ancelotti. Nhìn vào ông một số luôn tự hỏi, đằng sau cái vẻ trầm mặc kia là nguồn năng lượng vô tận và bộ óc thiên tài đến thế nào? Trong thế giới của những nhà cầm quân đương đại, Carletto chưa bao giờ phải tranh giành vị thế số 1, nhưng nội 3 Cúp Champions League danh giá đã đủ liệt ông vào hàng đầu, nếu không muốn nói là xuất sắc nhất.
    Vấn đề ở chỗ, Ancelotti không thực sự thuộc về một thái cực nào. Ông không phải người có một phong cách đặc trưng về chiến thuật như Pep Guardiola, thiếu những nghệ thuật hắc ám của Jose Mourinho, không thực dụng với lối chơi phòng ngự hà khắc như Diego Simeone, cũng không lãng mạn bay bổng theo kiểu bảo thủ duy ý chí của Arsene Wenger, không hướng đến phát triển dựa trên nền tảng tài năng trẻ giống Juergen Klopp. Bản thân Ancelotti là một nhà cầm quân điềm đạm, nên ông cũng thiếu các tố chất dạng thủ lĩnh tinh thần như Antonio Conte.
    Ung dung tự tại, luôn giữ tâm thế bất biến trước mọi biến đổi sôi động của thế giới bóng đá là bí quyết giúp Ancelotti bình thản bước tới đỉnh cao thành công và danh vọng.
    Vậy thì, câu hỏi được đặt ra là, Ancelotti tại sao lại thành công đến thế? Không may mắn nào có thể giúp một huấn luyện viên đăng quang Champions League đến 3 lần. Câu trả lời, trong trường hợp của Carletto, đó là sự linh hoạt và tính tổ chức. Thông thường, hai phạm trù này có sự va đập bởi tính tổ chức đòi hỏi những quy chuẩn, trong khi sự linh hoạt lại được sinh ra để phá vỡ những quy chuẩn ấy. Nhưng Carlo giải quyết được bài toán này bởi sự nhạy bén thiên bẩm. Nó bắt nguồn từ xuất phát điểm từ những ngày Ancelotti đến với bóng đá.
    Những đứa trẻ con nhà nông ở vùng Emilia-Romagna đều có một đặc trưng tính cách: Ý chí kiên cường và khả năng xoay chuyển số phận. Ancelotti là một người như thế. Sớm đối mặt với những khó khăn từ thuở tấm bé, nên cho dù mang trong mình nhiều mặc cảm ngày đầu đặt chân vào lãnh địa bóng đá, Carlo vẫn biết biến nó trở thành động lực để vượt qua.
    Trong tâm tưởng của người thầy vĩ đại Arrigo Sacchi, Ancelotti không phải một tiền vệ có tốc độ hoặc kỹ năng đặc biệt, lại không có vẻ ngoài dữ dằn bặm trợn. Đổi lại, Ancelotti chơi bóng như “nhạc trưởng của dàn giao hưởng”.
    Người thầy trước nữa của Carletto, Nils Liedholm chỉ dạy cho ông điều cơ bản nhất với một HLV: Cách ứng nhân xử thế với các cầu thủ. Tại Roma, Liedholm không nói với học trò: “Cậu phải làm như thế này, hoặc thế kia. Đó là sự độc đoán và nó không nên có ở một HLV” - Carlo hồi tưởng.
    Tiếp nhận sở học ưu việt từ những người thày như Nils Liedholm và Arrigo Sacchi, HLV Ancelotti đã biến mình thày bậc thày về đắc nhân tâm và chiến thuật, trở thành một nhà chiến lược lỗi lạc trong thế giới bóng đá đương đại.
    Trong ký ức của Ancelotti, vị thuyền trưởng người Thụy Điển là chuẩn mực mà một HLV nên theo đuổi: “Khi Roma hành quân lên phía bắc, đội bóng không di chuyển bằng máy bay bởi ông ấy - Nils Liedholm, sợ máy bay. Thay vào đó, chúng tôi đi tàu, từ Rome đến Milan.
    Khoảng cách là hơn 500km, và nếu ngày nay tàu cao tốc chỉ mất 3 giờ đồng hồ, thì trước đây chúng tôi cần đến 9 tiếng. Ông lên tàu lúc 9h30 tối và đến 10h là đã ngủ rồi. Nửa đêm, ông ấy tỉnh dậy và trò chuyện với những người không thể ngủ được. Nils thường nhờ một bác sỹ có năng khiếu kể chuyện của Roma vào phòng thay đồ kể truyện cười cho toàn đội, một liệu pháp tâm lý tuyệt vời”.
    Sau này, Ancelotti cũng thường làm thế với các học trò, thậm chí là trước trận chung kết Champions League. Ông hiểu rõ giá trị của các cầu thủ ở cấp cao nhất: Hầu hết họ không cần phải thúc đẩy. Họ chỉ cần sự bình tĩnh.

    KẺ THÀNH ĐẠT NHƯNG KHÔNG AI GHEN GHÉT

    Nhưng Arrigo Sacchi mới là người có ảnh hưởng lớn nhất đến phong cách huấn luyện của Ancelotti. Nói chính xác hơn, Sacchi đã cứu rỗi cho linh hồn Carletto. Từ năm 1981, Ancelotti trở thành vị khách thường xuyên của… bệnh xá. Cái đầu gối tưởng chừng đã nát vụn đẩy ông sang bên lề của World Cup 1982.
    Và trớ trêu thay, đó cũng là năm Italia của Enzo Bearzot đăng quang trên đất Tây Ban Nha. Có điều, chiến tích của Azzurri năm đó kém lung linh đi nhiều lần khi không có một tiền vệ đầu óc, có khả năng tổ chức tốt như Ancelotti trong đội hình. Người ta sẽ chỉ nhắc đến Espana 1982 như là đỉnh cao của Catenaccio.
    Ngay cả khi giành được những vinh quang lớn lao cùng AS Roma (như chức vô địch Italia mùa 1982/83, Coppa Italia 1983/84 hay đi đến chung kết Cúp châu Âu 1983/84) có một sự thật là những năm tháng đẹp đẽ nhất sự nghiệp một cầu thủ, với Ancelotti lại là những niềm đau. Sau này ông chia sẻ, những buổi vật lý trị liệu luôn luôn là cơn ác mộng đáng sợ nhất. Ngày ấy, đám đông ở Rome tin rằng Ancelotti đang đi vào chương cuối đầy bi kịch trong sự nghiệp kém huy hoàng.
    Nhưng vào mùa hè năm 1987, Sacchi đã đến và mang Ancelotti đến San Siro - ở tuổi 27 cùng cái đầu gối đang gặp vấn đề nghiêm trọng. Có hề gì, đó mới là lúc giới mộ điệu được thấy một trong những tiền vệ có lối chơi thông minh bậc nhất xứ mỳ ống trong thời đại của mình.
    Trong vai trò một nhà kiến thiết lùi sâu, Ancelotti chính là bộ não của AC Milan. 2 chức vô địch châu Âu liên tiếp đưa Rossoneri vào huyền thoại “Grande Milan”, trở thành 1 trong 9 ngôi sao lấp lánh của European Cup khi xưa, ngày nay là Champions League. Trong khi đó, Roma lâm vào thời kỳ tăm tối, sau một loạt thành công cùng Ancelotti là 4 năm liền trắng tay trên mọi đấu trường.
    Được tái sinh bởi Arrigo Sacchi, vì lẽ đó Ancelotti luôn hiểu rõ tầm quan trọng của người huấn luyện viên với sự nghiệp một cầu thủ. Và ông đã luôn dốc sức mình để không hủy hoại sự nghiệp của bất cứ ai. Bạn có thể tìm thấy ai phàn nàn về Ancelotti, ở Reggiana, Juvetus, Milan, ở Chelsea, PSG, ngay cả Dải thiên hà đầy rẫy những mầm mống phản loạn Real Madrid, và bây giờ là Bayern?
    Không một ai cả! Và bản thân Carlo cũng khẳng định, ông chưa từng ghét bỏ ai trong suốt 22 năm theo nghiệp cầm quân. Ngày rời Bernabeu, Carletto được các học trò bịn rịn lưu luyến. Vẫn là những con người ấy, như Ronaldo, Ramos, Modric hay Pepe, đã chẳng thèm đoái hoài xem Jose Mourinho đi đâu sau khi kết thúc công việc tại Real.
    Khả năng quản lý các cầu thủ lớn của Ancelotti là một nghệ thuật. Zlatan Ibrahimovic - sẵn sàng đấm vỡ mặt “gã không có bi” Pep Guardiola, ca ngợi Ancelotti như là huấn luyện viên xuất sắc bậc nhất. Sự chuyên nghiệp của Ibra chính là thứ vũ khí sắc bén nhất Ancelotti có trong những ngày đầu ở PSG.
    Công bằng mà nói, khi Carletto đến với sân Công viên các Hoàng tử, ngoài những va-li tiền vô tận của các ông chủ người Qatar, đội bóng này chẳng có gì cả. Và bởi thế, có thể xem Ancelotti và Zlatan là những người đặt nền móng cho đế chế của đội bóng thủ đô ngày hôm nay.
    Trong khi đó Ronaldo - mỗi khi được hỏi về ông thầy người Ý, đều tỏ niềm yêu mến và kính phục. Ancelotti kể, CR7 là người có tham vọng mà hiếm ai trong giới cầu thủ sánh kịp. Anh muốn Real chơi theo cách của mình. Anh không quan tâm đến tiền bạc, cái anh theo đuổi chỉ là vị thế của kẻ số 1. Và anh cũng là người chuyên nghiệp bậc nhất.
    Ronaldo có thể ở lại khu đào tạo, ngâm nước đá đến 3 giờ sáng ngay cả khi cô nàng Irina đang chờ sẵn ở nhà. Và nhờ chiến thuật hợp lý của Ancelotti cùng một chút may mắn, Real hoàn thành giấc mộng Decima mà họ phải chờ đợi suốt từ năm 2003.
    Phần thưởng cho Ronaldo, như tất cả đã biết, là Quả bóng vàng thứ ba trong sự nghiệp. Song Ancelotti không coi C.R7 là nhân vật đặc biệt, bởi ông đối xử tất cả đều công bằng như nhau; Ronaldo cũng chỉ như Morata hay Cavajal - khi ấy còn đang tập luyện ở đội trẻ Castilla mà thôi.
    Không chỉ nhận được niềm yêu mến của các học trò, Ancelotti nhận được sự kính trọng từ chính các đồng nghiệp. Jose Mourinho luôn sẵn sàng ném về phía đồng nghiệp những lời nanh nọc, như ví Wenger là chuyên gia thất bại, gọi Benitez là gã béo, song lại là một người bạn tốt của Carletto.
    Khi Chelsea của Ancelotti đối đầu Inter Milan được dẫn dắt bởi chính Mourinho ở Champions League năm 2010, Carlo từng kể về cuộc gặp gỡ Người đặc biệt trong cuốn tự truyện như thế này: “Chúng tôi gặp nhau ở hành lang Giuseppe Meazza và thực hiện một thỏa hiệp: Không cãi nhau, không tranh luận. 6 từ, 1 cái bắt tay và chỉ mất 10 giây để chúng tôi hiểu nhau”.
    Sau khi Chelsea vô địch Premier League, Mourinho gửi tin nhắn đến Ancelotti: “Rượu champagne nhé”. Và khi Inter chiến thắng ở Italia, Ancelotti nhắn lại: “Champagne, nhưng đừng quá nhiều”. Và trong cuốn tự truyện, Carletto cũng từng miêu tả Mourinho là “Người truyền đạt vĩ đại, Chúa tể của những sự kiện báo chí, Nhà tâm lý chiến đại tài, một huấn luyện viên đặc biệt”.
    Với Carlo Ancelotti, các đội bóng được chia làm hai nhóm: Một gia đình, hoặc là một công ty. Parma, AC Milan thuộc về nhóm đầu tiên, PSG cũng thế - nơi ông sắm vai một người cha chỉ dạy những nét chữ đầu tiên cho đám con thơ tập viết những dòng nghệch ngoạc. Juventus, Chelsea và Real Madrid giống như một công ty. Chelsea, Real sa thải Ancelotti, như một lẽ tự nhiên, khi bạn không hoàn thành công việc bạn phải trả giá bằng vị trí của mình.
    Chuyến xê dịch ra khỏi Italia năm 2009 thực sự là một quyết định lớn lao của Carletto. Ông đã giành được rất nhiều thành công với Parma, Juventus và đặc biệt là AC Milan. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo cho cuộc thập tự chinh ấy sẽ mang đến kết quả viên mãn. Nhưng ánh hào quang cùng muôn vàn thử thách ở Chelsea như thứ ánh sáng có sức hút đầy ma mị, còn Ancelotti thì lao đến như thiêu thân.
    Cho đến ngày lĩnh trát sa thải, khó có thể nói Carlo đã thất bại. Này nhé, ông giúp Chelsea - vẫn với đội hình đã trắng tay 3 năm trước đó, ẵm cú đúp cúp quốc nội, chấm dứt sự thống trị của Man Utd sau 3 năm đế chế đỏ phủ bóng lên xứ sương mù. 2009/10 là mùa giải duy nhất cho đến nay Chelsea vô địch cả Premier League lẫn FA Cup - thành tích mà Jose Mourinho cũng không thể chạm đến sau 2 nhiệm kỳ ở Tây London.
    Lần đầu tiên gặp vị tỷ phú nổi tiếng nhưng cũng đầy bí ẩn Roman Abramovich, ấn tượng trong Carlo thật đặc biệt. Nhà tài phiệt người Nga đã nói: “Khi tôi xem Chelsea thi đấu, tôi không nhận thấy đó là một Chelsea có bản sắc và phong cách”. Công việc của Ancelotti là phải cung cấp một đội bóng có bản sắc. Thời gian đầu ở London quả thực khó khăn, đặc biệt là cách thức để truyền tải các thông điệp đến học trò. Song, kết quả cuối cùng đã chứng minh rằng Ancelotti thực sự là người có đôi tay của phù thủy.
    Thất bại nặng nề nhất cho đến thời điểm này sự nghiệp của Carlo Ancelotti ắt hẳn phải là trận chung kết Champions League 2005. Không ai hiểu điều gì xảy ra sau giờ nghỉ, khi AC Milan đã dẫn Liverpool đến 3 bàn. Cả Milano đã ngập trong men say chiến thắng sau hiệp đầu tiên. Nhưng trận chung kết ở Istanbul đã trở thành thảm kịch của Milan. Đội bóng nước Anh nhanh chóng gỡ 3 bàn, và hạ gục người Ý trên loạt đấu súng.
    Nếu là một HLV khác có lẽ đã gục ngã, nhưng Ancelotti thì không. Ông nói về nó với vẻ nhẹ nhõm: “Đội bóng đã làm tất cả để giành chiến thắng. Vì vậy, tôi không thể giận dữ hay trách cứ. Tôi nghĩ rằng đó là số phận. Tôi đã trải qua 1.001 trận đấu, và nếu cứ mãi nhìn về nó, tôi sẽ không thể tiến đến bất cứ đâu. Nếu tôi phải lựa chọn 2 trận đấu mà đội bóng của tôi đã chơi thực sự, thực sự tốt thì đó sẽ là trận đấu này. Trận thứ hai là bán kết 2007 với Man Utd”.
    Quả có vậy. AC Milan gặp lại Liverpool vào năm 2007, lần này tại Athens. Những trò đùa của Carlo trong phòng thay đồ trước giờ xung trận giúp toàn đội cảm thấy nhẹ nhõm. Họ không coi đây là một cuộc báo thù.
    Nhưng Ancelotti không cho phép mình sai thêm một lần nào nữa. AC Milan dẫn 2-0 trước giờ nghỉ nhờ cú đúp của Inzaghi. Và mặc dù Liverpool cũng manh nha gợi lại ký ức của 2 năm trước, thực tế họ đã chỉ có thể ghi bàn rút ngắn ở phút 89. Và như vậy là quá muộn.
    Với cái tâm tĩnh lặng trước mọi biến cố, Ancelotti cho phép mọi thứ có sự linh hoạt nhất định. Ông sẽ không khước từ nếu một cầu thủ nói: “Huấn luyện viên, chúng ta đã có một tuần thực sự mệt mỏi. Có thể cho phép chúng tôi ngủ thêm một tiếng được không?”.
    Tuy nhiên, Ancelotti cũng là người có những nguyên tắc mà không ai được phép xâm phạm. “Tại Chelsea, chúng tôi có cuộc họp chiến thuật vào 10h30. Một lần Didier Drogba không ở đó. Tôi không biết vì lý do giao thông hay điều gì khác. Anh ta đến vào lúc 11h. Và trận đó, Drogba không được ra sân”.
    Carlo Ancelotti luôn giữ cho tâm hồn phẳng lặng như mặt hồ. Nhưng bên trong nó là sự chuyển động không ngừng. Và các đội bóng mà ông dẫn dắt có thể không quá ào ạt, nhưng luôn có đủ nguồn sức mạnh để vượt qua mọi thác ghềnh. Kết thúc buổi phóng vấn, Ancelotti lại cố gắng vận dụng vốn từ vựng tiếng Đức ít ỏi. Carletto thừa nhận tiếng Đức khó hơn tiếng Anh, Pháp hay cả Tây Ban Nha những nơi ông đã đến và chiến thắng. Ông bảo, đôi khi không thể hiểu tại sao đôi khi một động từ ở vị trí thứ hai trong một câu, để rồi lặp lại một lần nữa ở cuối câu. Nhưng có hề gì!

    BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ

    NGƯỜI Ý TRẦM LẶNG VÀ BÍ QUYẾT CHIẾN THẮNG VỚI THUYẾT VÔ VI

    DAVID NGUYEN  |  at  8:57:00 PM

    Ở trận cầm quân thứ 1.000, Bayern Munich của Carlo Ancelotti đã nghiền nát Hamburg 8-0. Và trong thiên cổ tích “ngàn lẻ một trận”, Ancelotti cũng tận hưởng khoái cảm chiến thắng khi Bayern hạ Schalke 3-0. Bayern thắng là chuyện nhỏ, song việc Ancelotti điều binh tới 1.001 trận thì lại có tầm vóc lớn bởi có mấy HLV trên thế giới làm được điều đó. Song, Ancelotti lặng lẽ làm “công việc của người Italia” với tinh thần ung dung tự tại của thuyết Vô Vi.

    Cất chất giọng trầm khàn ấm áp, Carlo Ancelotti có vẻ khó nhọc để truyền tải các thông điệp bằng tiếng Đức. 8 tháng ở Bavaria không giúp ích nhiều Carletto trong việc làm quen với ngôn ngữ của “dân tộc thượng đẳng”. Có sao, cuộc đời ông đã kinh qua ngàn vạn thử thách hóc búa gấp nhiều lần, và rồi đều uyển chuyển vượt qua như dòng nước, bởi một lẽ…
    Từ Italia đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha và bây giờ là nước Đức, nơi đâu cũng in hằn dấu chân của người chiến thắng mang tên Carlo Ancelotti. Nhìn vào ông một số luôn tự hỏi, đằng sau cái vẻ trầm mặc kia là nguồn năng lượng vô tận và bộ óc thiên tài đến thế nào? Trong thế giới của những nhà cầm quân đương đại, Carletto chưa bao giờ phải tranh giành vị thế số 1, nhưng nội 3 Cúp Champions League danh giá đã đủ liệt ông vào hàng đầu, nếu không muốn nói là xuất sắc nhất.
    Vấn đề ở chỗ, Ancelotti không thực sự thuộc về một thái cực nào. Ông không phải người có một phong cách đặc trưng về chiến thuật như Pep Guardiola, thiếu những nghệ thuật hắc ám của Jose Mourinho, không thực dụng với lối chơi phòng ngự hà khắc như Diego Simeone, cũng không lãng mạn bay bổng theo kiểu bảo thủ duy ý chí của Arsene Wenger, không hướng đến phát triển dựa trên nền tảng tài năng trẻ giống Juergen Klopp. Bản thân Ancelotti là một nhà cầm quân điềm đạm, nên ông cũng thiếu các tố chất dạng thủ lĩnh tinh thần như Antonio Conte.
    Vậy thì, câu hỏi được đặt ra là, Ancelotti tại sao lại thành công đến thế? Không may mắn nào có thể giúp một huấn luyện viên đăng quang Champions League đến 3 lần. Câu trả lời, trong trường hợp của Carletto, đó là sự linh hoạt và tính tổ chức. Thông thường, hai phạm trù này có sự va đập bởi tính tổ chức đòi hỏi những quy chuẩn, trong khi sự linh hoạt lại được sinh ra để phá vỡ những quy chuẩn ấy. Nhưng Carlo giải quyết được bài toán này bởi sự nhạy bén thiên bẩm. Nó bắt nguồn từ xuất phát điểm từ những ngày Ancelotti đến với bóng đá.
    Những đứa trẻ con nhà nông ở vùng Emilia-Romagna đều có một đặc trưng tính cách: Ý chí kiên cường và khả năng xoay chuyển số phận. Ancelotti là một người như thế. Sớm đối mặt với những khó khăn từ thuở tấm bé, nên cho dù mang trong mình nhiều mặc cảm ngày đầu đặt chân vào lãnh địa bóng đá, Carlo vẫn biết biến nó trở thành động lực để vượt qua.
    Trong tâm tưởng của người thầy vĩ đại Arrigo Sacchi, Ancelotti không phải một tiền vệ có tốc độ hoặc kỹ năng đặc biệt, lại không có vẻ ngoài dữ dằn bặm trợn. Đổi lại, Ancelotti chơi bóng như “nhạc trưởng của dàn giao hưởng”.
    Người thầy trước nữa của Carletto, Nils Liedholm chỉ dạy cho ông điều cơ bản nhất với một HLV: Cách ứng nhân xử thế với các cầu thủ. Tại Roma, Liedholm không nói với học trò: “Cậu phải làm như thế này, hoặc thế kia. Đó là sự độc đoán và nó không nên có ở một HLV” - Carlo hồi tưởng.
    Trong ký ức của Ancelotti, vị thuyền trưởng người Thụy Điển là chuẩn mực mà một HLV nên theo đuổi: “Khi Roma hành quân lên phía bắc, đội bóng không di chuyển bằng máy bay bởi ông ấy - Nils Liedholm, sợ máy bay. Thay vào đó, chúng tôi đi tàu, từ Rome đến Milan.
    Khoảng cách là hơn 500km, và nếu ngày nay tàu cao tốc chỉ mất 3 giờ đồng hồ, thì trước đây chúng tôi cần đến 9 tiếng. Ông lên tàu lúc 9h30 tối và đến 10h là đã ngủ rồi. Nửa đêm, ông ấy tỉnh dậy và trò chuyện với những người không thể ngủ được. Nils thường nhờ một bác sỹ có năng khiếu kể chuyện của Roma vào phòng thay đồ kể truyện cười cho toàn đội, một liệu pháp tâm lý tuyệt vời”.
    Sau này, Ancelotti cũng thường làm thế với các học trò, thậm chí là trước trận chung kết Champions League. Ông hiểu rõ giá trị của các cầu thủ ở cấp cao nhất: Hầu hết họ không cần phải thúc đẩy. Họ chỉ cần sự bình tĩnh.

    NGƯỜI Ý TRẦM LẶNG VÀ BÍ QUYẾT CHIẾN THẮNG VỚI THUYẾT VÔ VI

    Ở trận cầm quân thứ 1.000, Bayern Munich của Carlo Ancelotti đã nghiền nát Hamburg 8-0. Và trong thiên cổ tích “ngàn lẻ một trận”, Ancelotti cũng tận hưởng khoái cảm chiến thắng khi Bayern hạ Schalke 3-0. Bayern thắng là chuyện nhỏ, song việc Ancelotti điều binh tới 1.001 trận thì lại có tầm vóc lớn bởi có mấy HLV trên thế giới làm được điều đó. Song, Ancelotti lặng lẽ làm “công việc của người Italia” với tinh thần ung dung tự tại của thuyết Vô Vi.

    XUẤT PHÁT ĐIỂM CỦA THIÊN TÀI

    Cất chất giọng trầm khàn ấm áp, Carlo Ancelotti có vẻ khó nhọc để truyền tải các thông điệp bằng tiếng Đức. 8 tháng ở Bavaria không giúp ích nhiều Carletto trong việc làm quen với ngôn ngữ của “dân tộc thượng đẳng”. Có sao, cuộc đời ông đã kinh qua ngàn vạn thử thách hóc búa gấp nhiều lần, và rồi đều uyển chuyển vượt qua như dòng nước, bởi một lẽ…
    Từ Italia đến Anh, Pháp, Tây Ban Nha và bây giờ là nước Đức, nơi đâu cũng in hằn dấu chân của người chiến thắng mang tên Carlo Ancelotti. Nhìn vào ông một số luôn tự hỏi, đằng sau cái vẻ trầm mặc kia là nguồn năng lượng vô tận và bộ óc thiên tài đến thế nào? Trong thế giới của những nhà cầm quân đương đại, Carletto chưa bao giờ phải tranh giành vị thế số 1, nhưng nội 3 Cúp Champions League danh giá đã đủ liệt ông vào hàng đầu, nếu không muốn nói là xuất sắc nhất.
    Vấn đề ở chỗ, Ancelotti không thực sự thuộc về một thái cực nào. Ông không phải người có một phong cách đặc trưng về chiến thuật như Pep Guardiola, thiếu những nghệ thuật hắc ám của Jose Mourinho, không thực dụng với lối chơi phòng ngự hà khắc như Diego Simeone, cũng không lãng mạn bay bổng theo kiểu bảo thủ duy ý chí của Arsene Wenger, không hướng đến phát triển dựa trên nền tảng tài năng trẻ giống Juergen Klopp. Bản thân Ancelotti là một nhà cầm quân điềm đạm, nên ông cũng thiếu các tố chất dạng thủ lĩnh tinh thần như Antonio Conte.
    Ung dung tự tại, luôn giữ tâm thế bất biến trước mọi biến đổi sôi động của thế giới bóng đá là bí quyết giúp Ancelotti bình thản bước tới đỉnh cao thành công và danh vọng.
    Vậy thì, câu hỏi được đặt ra là, Ancelotti tại sao lại thành công đến thế? Không may mắn nào có thể giúp một huấn luyện viên đăng quang Champions League đến 3 lần. Câu trả lời, trong trường hợp của Carletto, đó là sự linh hoạt và tính tổ chức. Thông thường, hai phạm trù này có sự va đập bởi tính tổ chức đòi hỏi những quy chuẩn, trong khi sự linh hoạt lại được sinh ra để phá vỡ những quy chuẩn ấy. Nhưng Carlo giải quyết được bài toán này bởi sự nhạy bén thiên bẩm. Nó bắt nguồn từ xuất phát điểm từ những ngày Ancelotti đến với bóng đá.
    Những đứa trẻ con nhà nông ở vùng Emilia-Romagna đều có một đặc trưng tính cách: Ý chí kiên cường và khả năng xoay chuyển số phận. Ancelotti là một người như thế. Sớm đối mặt với những khó khăn từ thuở tấm bé, nên cho dù mang trong mình nhiều mặc cảm ngày đầu đặt chân vào lãnh địa bóng đá, Carlo vẫn biết biến nó trở thành động lực để vượt qua.
    Trong tâm tưởng của người thầy vĩ đại Arrigo Sacchi, Ancelotti không phải một tiền vệ có tốc độ hoặc kỹ năng đặc biệt, lại không có vẻ ngoài dữ dằn bặm trợn. Đổi lại, Ancelotti chơi bóng như “nhạc trưởng của dàn giao hưởng”.
    Người thầy trước nữa của Carletto, Nils Liedholm chỉ dạy cho ông điều cơ bản nhất với một HLV: Cách ứng nhân xử thế với các cầu thủ. Tại Roma, Liedholm không nói với học trò: “Cậu phải làm như thế này, hoặc thế kia. Đó là sự độc đoán và nó không nên có ở một HLV” - Carlo hồi tưởng.
    Tiếp nhận sở học ưu việt từ những người thày như Nils Liedholm và Arrigo Sacchi, HLV Ancelotti đã biến mình thày bậc thày về đắc nhân tâm và chiến thuật, trở thành một nhà chiến lược lỗi lạc trong thế giới bóng đá đương đại.
    Trong ký ức của Ancelotti, vị thuyền trưởng người Thụy Điển là chuẩn mực mà một HLV nên theo đuổi: “Khi Roma hành quân lên phía bắc, đội bóng không di chuyển bằng máy bay bởi ông ấy - Nils Liedholm, sợ máy bay. Thay vào đó, chúng tôi đi tàu, từ Rome đến Milan.
    Khoảng cách là hơn 500km, và nếu ngày nay tàu cao tốc chỉ mất 3 giờ đồng hồ, thì trước đây chúng tôi cần đến 9 tiếng. Ông lên tàu lúc 9h30 tối và đến 10h là đã ngủ rồi. Nửa đêm, ông ấy tỉnh dậy và trò chuyện với những người không thể ngủ được. Nils thường nhờ một bác sỹ có năng khiếu kể chuyện của Roma vào phòng thay đồ kể truyện cười cho toàn đội, một liệu pháp tâm lý tuyệt vời”.
    Sau này, Ancelotti cũng thường làm thế với các học trò, thậm chí là trước trận chung kết Champions League. Ông hiểu rõ giá trị của các cầu thủ ở cấp cao nhất: Hầu hết họ không cần phải thúc đẩy. Họ chỉ cần sự bình tĩnh.

    KẺ THÀNH ĐẠT NHƯNG KHÔNG AI GHEN GHÉT

    Nhưng Arrigo Sacchi mới là người có ảnh hưởng lớn nhất đến phong cách huấn luyện của Ancelotti. Nói chính xác hơn, Sacchi đã cứu rỗi cho linh hồn Carletto. Từ năm 1981, Ancelotti trở thành vị khách thường xuyên của… bệnh xá. Cái đầu gối tưởng chừng đã nát vụn đẩy ông sang bên lề của World Cup 1982.
    Và trớ trêu thay, đó cũng là năm Italia của Enzo Bearzot đăng quang trên đất Tây Ban Nha. Có điều, chiến tích của Azzurri năm đó kém lung linh đi nhiều lần khi không có một tiền vệ đầu óc, có khả năng tổ chức tốt như Ancelotti trong đội hình. Người ta sẽ chỉ nhắc đến Espana 1982 như là đỉnh cao của Catenaccio.
    Ngay cả khi giành được những vinh quang lớn lao cùng AS Roma (như chức vô địch Italia mùa 1982/83, Coppa Italia 1983/84 hay đi đến chung kết Cúp châu Âu 1983/84) có một sự thật là những năm tháng đẹp đẽ nhất sự nghiệp một cầu thủ, với Ancelotti lại là những niềm đau. Sau này ông chia sẻ, những buổi vật lý trị liệu luôn luôn là cơn ác mộng đáng sợ nhất. Ngày ấy, đám đông ở Rome tin rằng Ancelotti đang đi vào chương cuối đầy bi kịch trong sự nghiệp kém huy hoàng.
    Nhưng vào mùa hè năm 1987, Sacchi đã đến và mang Ancelotti đến San Siro - ở tuổi 27 cùng cái đầu gối đang gặp vấn đề nghiêm trọng. Có hề gì, đó mới là lúc giới mộ điệu được thấy một trong những tiền vệ có lối chơi thông minh bậc nhất xứ mỳ ống trong thời đại của mình.
    Trong vai trò một nhà kiến thiết lùi sâu, Ancelotti chính là bộ não của AC Milan. 2 chức vô địch châu Âu liên tiếp đưa Rossoneri vào huyền thoại “Grande Milan”, trở thành 1 trong 9 ngôi sao lấp lánh của European Cup khi xưa, ngày nay là Champions League. Trong khi đó, Roma lâm vào thời kỳ tăm tối, sau một loạt thành công cùng Ancelotti là 4 năm liền trắng tay trên mọi đấu trường.
    Được tái sinh bởi Arrigo Sacchi, vì lẽ đó Ancelotti luôn hiểu rõ tầm quan trọng của người huấn luyện viên với sự nghiệp một cầu thủ. Và ông đã luôn dốc sức mình để không hủy hoại sự nghiệp của bất cứ ai. Bạn có thể tìm thấy ai phàn nàn về Ancelotti, ở Reggiana, Juvetus, Milan, ở Chelsea, PSG, ngay cả Dải thiên hà đầy rẫy những mầm mống phản loạn Real Madrid, và bây giờ là Bayern?
    Không một ai cả! Và bản thân Carlo cũng khẳng định, ông chưa từng ghét bỏ ai trong suốt 22 năm theo nghiệp cầm quân. Ngày rời Bernabeu, Carletto được các học trò bịn rịn lưu luyến. Vẫn là những con người ấy, như Ronaldo, Ramos, Modric hay Pepe, đã chẳng thèm đoái hoài xem Jose Mourinho đi đâu sau khi kết thúc công việc tại Real.
    Khả năng quản lý các cầu thủ lớn của Ancelotti là một nghệ thuật. Zlatan Ibrahimovic - sẵn sàng đấm vỡ mặt “gã không có bi” Pep Guardiola, ca ngợi Ancelotti như là huấn luyện viên xuất sắc bậc nhất. Sự chuyên nghiệp của Ibra chính là thứ vũ khí sắc bén nhất Ancelotti có trong những ngày đầu ở PSG.
    Công bằng mà nói, khi Carletto đến với sân Công viên các Hoàng tử, ngoài những va-li tiền vô tận của các ông chủ người Qatar, đội bóng này chẳng có gì cả. Và bởi thế, có thể xem Ancelotti và Zlatan là những người đặt nền móng cho đế chế của đội bóng thủ đô ngày hôm nay.
    Trong khi đó Ronaldo - mỗi khi được hỏi về ông thầy người Ý, đều tỏ niềm yêu mến và kính phục. Ancelotti kể, CR7 là người có tham vọng mà hiếm ai trong giới cầu thủ sánh kịp. Anh muốn Real chơi theo cách của mình. Anh không quan tâm đến tiền bạc, cái anh theo đuổi chỉ là vị thế của kẻ số 1. Và anh cũng là người chuyên nghiệp bậc nhất.
    Ronaldo có thể ở lại khu đào tạo, ngâm nước đá đến 3 giờ sáng ngay cả khi cô nàng Irina đang chờ sẵn ở nhà. Và nhờ chiến thuật hợp lý của Ancelotti cùng một chút may mắn, Real hoàn thành giấc mộng Decima mà họ phải chờ đợi suốt từ năm 2003.
    Phần thưởng cho Ronaldo, như tất cả đã biết, là Quả bóng vàng thứ ba trong sự nghiệp. Song Ancelotti không coi C.R7 là nhân vật đặc biệt, bởi ông đối xử tất cả đều công bằng như nhau; Ronaldo cũng chỉ như Morata hay Cavajal - khi ấy còn đang tập luyện ở đội trẻ Castilla mà thôi.
    Không chỉ nhận được niềm yêu mến của các học trò, Ancelotti nhận được sự kính trọng từ chính các đồng nghiệp. Jose Mourinho luôn sẵn sàng ném về phía đồng nghiệp những lời nanh nọc, như ví Wenger là chuyên gia thất bại, gọi Benitez là gã béo, song lại là một người bạn tốt của Carletto.
    Khi Chelsea của Ancelotti đối đầu Inter Milan được dẫn dắt bởi chính Mourinho ở Champions League năm 2010, Carlo từng kể về cuộc gặp gỡ Người đặc biệt trong cuốn tự truyện như thế này: “Chúng tôi gặp nhau ở hành lang Giuseppe Meazza và thực hiện một thỏa hiệp: Không cãi nhau, không tranh luận. 6 từ, 1 cái bắt tay và chỉ mất 10 giây để chúng tôi hiểu nhau”.
    Sau khi Chelsea vô địch Premier League, Mourinho gửi tin nhắn đến Ancelotti: “Rượu champagne nhé”. Và khi Inter chiến thắng ở Italia, Ancelotti nhắn lại: “Champagne, nhưng đừng quá nhiều”. Và trong cuốn tự truyện, Carletto cũng từng miêu tả Mourinho là “Người truyền đạt vĩ đại, Chúa tể của những sự kiện báo chí, Nhà tâm lý chiến đại tài, một huấn luyện viên đặc biệt”.
    Với Carlo Ancelotti, các đội bóng được chia làm hai nhóm: Một gia đình, hoặc là một công ty. Parma, AC Milan thuộc về nhóm đầu tiên, PSG cũng thế - nơi ông sắm vai một người cha chỉ dạy những nét chữ đầu tiên cho đám con thơ tập viết những dòng nghệch ngoạc. Juventus, Chelsea và Real Madrid giống như một công ty. Chelsea, Real sa thải Ancelotti, như một lẽ tự nhiên, khi bạn không hoàn thành công việc bạn phải trả giá bằng vị trí của mình.
    Chuyến xê dịch ra khỏi Italia năm 2009 thực sự là một quyết định lớn lao của Carletto. Ông đã giành được rất nhiều thành công với Parma, Juventus và đặc biệt là AC Milan. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo cho cuộc thập tự chinh ấy sẽ mang đến kết quả viên mãn. Nhưng ánh hào quang cùng muôn vàn thử thách ở Chelsea như thứ ánh sáng có sức hút đầy ma mị, còn Ancelotti thì lao đến như thiêu thân.
    Cho đến ngày lĩnh trát sa thải, khó có thể nói Carlo đã thất bại. Này nhé, ông giúp Chelsea - vẫn với đội hình đã trắng tay 3 năm trước đó, ẵm cú đúp cúp quốc nội, chấm dứt sự thống trị của Man Utd sau 3 năm đế chế đỏ phủ bóng lên xứ sương mù. 2009/10 là mùa giải duy nhất cho đến nay Chelsea vô địch cả Premier League lẫn FA Cup - thành tích mà Jose Mourinho cũng không thể chạm đến sau 2 nhiệm kỳ ở Tây London.
    Lần đầu tiên gặp vị tỷ phú nổi tiếng nhưng cũng đầy bí ẩn Roman Abramovich, ấn tượng trong Carlo thật đặc biệt. Nhà tài phiệt người Nga đã nói: “Khi tôi xem Chelsea thi đấu, tôi không nhận thấy đó là một Chelsea có bản sắc và phong cách”. Công việc của Ancelotti là phải cung cấp một đội bóng có bản sắc. Thời gian đầu ở London quả thực khó khăn, đặc biệt là cách thức để truyền tải các thông điệp đến học trò. Song, kết quả cuối cùng đã chứng minh rằng Ancelotti thực sự là người có đôi tay của phù thủy.
    Thất bại nặng nề nhất cho đến thời điểm này sự nghiệp của Carlo Ancelotti ắt hẳn phải là trận chung kết Champions League 2005. Không ai hiểu điều gì xảy ra sau giờ nghỉ, khi AC Milan đã dẫn Liverpool đến 3 bàn. Cả Milano đã ngập trong men say chiến thắng sau hiệp đầu tiên. Nhưng trận chung kết ở Istanbul đã trở thành thảm kịch của Milan. Đội bóng nước Anh nhanh chóng gỡ 3 bàn, và hạ gục người Ý trên loạt đấu súng.
    Nếu là một HLV khác có lẽ đã gục ngã, nhưng Ancelotti thì không. Ông nói về nó với vẻ nhẹ nhõm: “Đội bóng đã làm tất cả để giành chiến thắng. Vì vậy, tôi không thể giận dữ hay trách cứ. Tôi nghĩ rằng đó là số phận. Tôi đã trải qua 1.001 trận đấu, và nếu cứ mãi nhìn về nó, tôi sẽ không thể tiến đến bất cứ đâu. Nếu tôi phải lựa chọn 2 trận đấu mà đội bóng của tôi đã chơi thực sự, thực sự tốt thì đó sẽ là trận đấu này. Trận thứ hai là bán kết 2007 với Man Utd”.
    Quả có vậy. AC Milan gặp lại Liverpool vào năm 2007, lần này tại Athens. Những trò đùa của Carlo trong phòng thay đồ trước giờ xung trận giúp toàn đội cảm thấy nhẹ nhõm. Họ không coi đây là một cuộc báo thù.
    Nhưng Ancelotti không cho phép mình sai thêm một lần nào nữa. AC Milan dẫn 2-0 trước giờ nghỉ nhờ cú đúp của Inzaghi. Và mặc dù Liverpool cũng manh nha gợi lại ký ức của 2 năm trước, thực tế họ đã chỉ có thể ghi bàn rút ngắn ở phút 89. Và như vậy là quá muộn.
    Với cái tâm tĩnh lặng trước mọi biến cố, Ancelotti cho phép mọi thứ có sự linh hoạt nhất định. Ông sẽ không khước từ nếu một cầu thủ nói: “Huấn luyện viên, chúng ta đã có một tuần thực sự mệt mỏi. Có thể cho phép chúng tôi ngủ thêm một tiếng được không?”.
    Tuy nhiên, Ancelotti cũng là người có những nguyên tắc mà không ai được phép xâm phạm. “Tại Chelsea, chúng tôi có cuộc họp chiến thuật vào 10h30. Một lần Didier Drogba không ở đó. Tôi không biết vì lý do giao thông hay điều gì khác. Anh ta đến vào lúc 11h. Và trận đó, Drogba không được ra sân”.
    Carlo Ancelotti luôn giữ cho tâm hồn phẳng lặng như mặt hồ. Nhưng bên trong nó là sự chuyển động không ngừng. Và các đội bóng mà ông dẫn dắt có thể không quá ào ạt, nhưng luôn có đủ nguồn sức mạnh để vượt qua mọi thác ghềnh. Kết thúc buổi phóng vấn, Ancelotti lại cố gắng vận dụng vốn từ vựng tiếng Đức ít ỏi. Carletto thừa nhận tiếng Đức khó hơn tiếng Anh, Pháp hay cả Tây Ban Nha những nơi ông đã đến và chiến thắng. Ông bảo, đôi khi không thể hiểu tại sao đôi khi một động từ ở vị trí thứ hai trong một câu, để rồi lặp lại một lần nữa ở cuối câu. Nhưng có hề gì!

    General

    Liên hệ . tien3939@gmail.com ..